Thứ Hai, 07 Tháng Chín, 2015 33

LAUDATO SI, XIN NGỢI KHEN CHÚA (II)

Phần II từ chương 3-5

Thông Điệp LAUDATO SI, XIN NGỢI KHEN CHÚA (II)

Xin bấm vào các đề mục để đọc

CHƯƠNG III

Nguồn gốc nhân bản của cuộc  khủng hoảng sinh thái [101-136]

I. Kỹ thuật: óc sáng tạo và quyền bính [102-105]

II. Hoàn cầu hóa mô hình kỹ thuật trị [106-114]

III. Khủng hoảng và hậu quả của thuyết duy nhân loại học tân thời [115-136]

Chủ thuyết duy tương đối thực hành [122-123]

Cần thiết bảo vệ lao công [124-139]

Canh tân sinh học từ nghiên cứu [130-136]

 

CHƯƠNG IV

Một nền môi sinh học toàn diện [137-162]

I. Môi sinh học môi trường, kinh tế, xã hội [138-142]

II. Môi sinh học văn hóa [143-146]

III. Môi sinh học về đời sống thường nhật [147-155]

IV. Nguyên tắc công ích [156-158]

V. Công lý giữa các thế hệ [159-162]

 

CHƯƠNG V

Vài đường nét định hướng và hành động [163-201]

I. Đối thoại về môi trường trong chính trị quốc tế [164-175]

II. Đối thoại hướng về những chính sách quốc gia và địa phương [176-181]

III. Đối thoại và minh bạch trong các tiến trình quyết định [182-188]

IV. Chính trị và kinh tế trong đối thoại để đạt tới sự viên mãn của con người [189-198]

V. Các tôn giáo trong cuộc đối thoại với khoa học [199-201]

 

CHƯƠNG III

NGUỒGỐC NHÂN BẢCỦCUỘKHỦNG HOẢNG SINH THÁI

101. Thực sự không ích lợi gì nếu chỉ diễn tả các hiện tượng của cơn khủng hoảng sinh thái mà không nhận thức được nguyên do nhân bản của nó. Đời sống và hoạt động con người có thể đi vào sai lạc và nghịch lại với thực tại đến độ gây tai hại cho chúng. Tại sao chúng ta không dừng lại để suy nghĩ điều này ? Trong suy nghĩ này, Tôi xin đề nghị chúng ta nên tập trung vào sự thực dụng kỹ thuật hiện tại và vào vị trí con người và hoạt động của họ trong thế giới.

I. CÔNG NGHỆ : NĂNG LỰSÁNG TẠVÀ QUYỀLỰC

102. Nhân loại đã bước vào một thời kỳ mới, trong đó sức mạnh kỹ thuật đặt chúng ta trước mỗi giao lộ. Chúng ta là những người thừa kế làn sóng thay đổi của hai thế kỷ : máy chạy hơi nước, xe lửa, điện tín, điện khí, xe hơi, máy bay, kỹ nghệ hóa chất, y khoa tân tiến, thông tin học, và mới hơn, cách mạng tin học, rô-bốt, kỹ nghệ sinh học và kỹ thuật siêu nhỏ. Thực sự phải vui mừng vì những phát triển đó và trước những khả năng mở ra những điều mới lạ, vì “khoa học và kỹ thuật là một sản phẩm kỳ diệu hoạt động sáng tạo của con người, một quà tặng của Thiên Chúa”[81]. Việc biến đổi thiên nhiên cho mục đích sử dụng là một đặc thù của nhân loại ngay từ thuở ban đầu, và như thế, kỹ thuật “diễn tả xu hướng của tâm trí con người từng bước lướt thắng những điều kiện vật chất” [82]. Kỹ thuật đã đem những phương dược chữa trị cho không biết bao nhiêu đau khổ làm hại con người và ngăn cản họ. Chúng ta chỉ có thể đánh giá và cám ơn những tiến triển kỹ thuật, nhất là trong lãnh vực y khoa, xây dựng và giao thông. Chúng ta phải công nhận những cố gắng của biết bao nhà khoa học và kỹ sư, mang đến sự đa dạng cho một sự phát triển lâu dài.

103. Khoa học kỹ thuật được định hướng tốt đẹp, không những sản xuất nhiều vật có giá trị để giúp làm tốt đẹp cho phẩm chất sống của con người, từ các đối tượng được sử dụng trong gia đình cho đến những phương tiện giao thông, những cây cầu, nhà cửa, những nơi công cộng, nhưng còn có khả năng sản sinh những gì tốt đẹp và còn đưa ra những “dự phóng” trong lãnh vực làm đẹp cho con người đang nằm trong thế giới vật chất. Người ta có thể phủ nhận vẻ đẹp của một chiếc máy bay hay những tòa nhà chọc trời hay không ? Có nhiều tác phẩm tuyệt vời trong mỹ thuật và âm nhạc, nhờ áp dụng các phương tiện kỹ thuật mới. Cũng như trong việc tìm tòi vẻ đẹp về phần người sản sinh kỹ thuật và người chiêm ngắm vẻ đẹp này như một bước nhảy vào sự tròn đầy nhân bản.

104. Chúng ta cũng không thể nào không chú ý đến năng lượng hạt nhân, công nghệ sinh học, thông tin học, nhận thức về ADN của chúng ta và những khả năng khác mà chúng ta thu nhận được, đã trao cho chúng ta một quyền lực khủng khiếp. Nói rõ hơn, chúng ban cho những ai có kiến thức và nhất là quyền lực kinh tế, sử dụng chúng như một quyền lực thật ấn tượng trên cả nhân loại lẫn cả thế giới. Chưa bao giờ nhân loại có được quyền lực như thế trên chính mình, và không có gì bảo đảm rằng chúng được sử dụng đúng đắn, nhất là khi người ta nghĩ đến cách chúng được sử dụng ngay trong lúc này. Chỉ cần nhớ đến những quả bom nguyên tử được thả ngay trong thế kỷ XX, cũng như việc sử dụng kỹ thuật của nhóm chủ nghĩa Phát xít, những chế độ độc tài sử dụng để tiêu diệt hằng triệu người, và cũng không nên quên rằng, ngày nay chiến tranh sẽ sử dụng những phương tiện giết người còn cao độ hơn. Quyền lực này sẽ nằm trong tay ai ? Thật là nguy hiểm khi quyền lực nằm trong tay một nhóm nhỏ !

105. Người ta thường tin rằng “mỗi việc gia tăng quyền lực là môt bước “tiến triển”, nâng cao sự bảo vệ, hữu ích, phúc lợi, sức sống, giá trị cao” [83], tựa như điều tốt đẹp và chân thật nhờ quyền lực kỹ thuật và kinh tế được vươn cao. Thực tế “con người thời nay đã không được giáo dục để sử dụng quyền lực thật đúng đắn” [84], chỉ vì sự phát triển kinh khiếp về mặt kỹ thuật không đi cùng với việc phát triển con người trong trách nhiệm, giá trị và lương tâm. Mỗi thời đại chỉ hướng đến phát triển sự tự nhận thức về các ranh giới thật sự của mình. Vì lý do này có thể ngày nay nhân loại không ý thức về sự trầm trọng của những thách đố trước mắt ; “khả năng con người sử dụng sai quyền lực của mình, cứ lớn dần, khi “không phải là những qui luật tự do, nhưng là sự cần thiết của việc sử dụng và đảm bảo “[85]. Con người không hoàn toàn độc lập. Sự tự do của họ sẽ bị ảnh hưởng xấu, khi đẩy mình vào những sức lực mù quáng của vô thức, những nhu cầu trực tiếp, chủ thuyết ích kỷ và bạo lực. Theo nghĩa này, con người tự để cho quyền lực ngày càng lớn dậy mà không có một phương tiện gì để kiểm soát. Họ có thể sử dụng các máy móc theo cách bên ngoài, nhưng chúng ta có thể khẳng định, ngày nay họ không có một thứ đạo đức, không có văn hóa và một linh đạo chắc chắn, có thể đặt chúng đúng ranh giới và gìn giữ chúng trong sự hy sinh sáng suốt.

[Trở lại Mục Lục]

II. TOÀCẦHÓSỰ THỰDỤNG KỸ THUẬT

106. Vấn đề cơ bản là một điều khác, sâu xa hơn, đó là cách con người thực sự đón nhận kỹ thuật và sự phát triển của nó liên hệ với thực dụng đồng nhất và một chiều hướng duy nhất. Theo sự thực dụng này, quan niệm về chủ thể phải được làm nổi bật, trong tiến trình hợp lý, chiếm lấy đối tượng nằm bên ngoài. Chủ thể này sẽ được phát triển nhờ việc tạo nên một phương pháp khoa học dựa vào kinh nghiệm rõ ràng, là một kỹ thuật chiếm hữu, thống trị và chuyển hóa. Gần như chủ thể này đối diện với một điều gì không có hình thức, hoàn toàn sẵn sàng để sử dụng. Sự can thiệp của con người trên thiên nhiên được minh chứng, nhưng về lâu về dài, gần như có một dấu chứng đi kèm theo, có thể sử dụng các khả năng do các vật đưa đến, như là đón nhận thực tại tự nhiên từ bản chất đưa đến. Ngược lại, bấy giờ, điều con người chú tâm là lợi dụng tất cả vật chất đến trong tay mình mà không biết hay quên đi thực tế đang ở trước mắt họ. Vì thế, tại sao con người và các vật thể không còn giang tay đón nhận nhau, nhưng đối diện nhau cách đối kháng. Từ đó đưa đến ý nghĩ về một sự phát triển vô hạn, không còn ranh giới gì nữa, do say mê với lợi lộc kinh tế, tài chính và kỹ thuật. Việc phát triển này giả thiết có một sự dối trá về việc sử dụng vô giới hạn các tài nguyên của hành tinh, đưa đến việc “o ép” đến tận cùng hay có khi vượt quá ranh giới. Đó là một giả thiết sai lầm, khi cho rằng “con người có thể sử dụng năng lượng và tài nguyên vô giới hạn, và tin vào việc tái tạo tức khắc, cũng như các hậu quả tiêu cực do việc sử dụng, không thành vấn đề gì cho trật tự thiên nhiên”[86].

107. Vì thế, chúng ta có thể nói, khởi đầu biết bao nhiêu khó khăn của thế giới hiện tại đã có một xu hướng – không phải lúc nào cũng ý thức – muốn nắm vững phương pháp và đặt mục đích cho khoa học kỹ thuật một mẫu kiến thức lệ thuộc vào đời sống con người và hoạt động của xã hội. Hiệu quả việc sử dụng mô mẫu này vào thực tại con người và xã hội có thể được xác định qua việc gây hại cho môi trường, đương nhiên chỉ là một dấu hiệu cho việc đúc kết hay ảnh hưởng xấu cho cuộc sống con người và xã hội trong mọi chiều kích. Người ta phải công nhận rằng các sản phẩm do kỹ thuật không hoàn toàn vô hại, chỉ vì chúng tạo một mạng lưới, cuối cùng tạo cách sống cho con người, định hướng cho mọi khả năng xã hội vào lợi ích của một nhóm quyền lực được xác định. Những quyết định chắc chắn xem ra chỉ dựa vào xu hướng vật chất, trong thực tế chỉ là những quyết định hướng vào sự tiếp tục phát triển của đời sống xã hội.

108. Không còn khả năng để suy nghĩ bảo vệ cho một thực dụng văn hóa khác và sử dụng một kỹ thuật như chỉ là công cụ. Sự thực dụng về mặt kỹ thuật đã trở thành chủ lực, thực khó bỏ qua phương tiện của nó và càng khó hơn nữa để sử dụng nó mà không làm chủ được hệ luận của nó. Điều này trở thành “chống văn hóa – kulturwidrig – une contre-culture” khi chọn một lối sống với mục đích ít là không lệ thuộc vào kỹ thuật, vào giá trị và quyền lực toàn cầu hóa và toàn khối hóa. Trong thực tế, kỹ thuật có xu hướng tìm cách đưa tất cả vào lô-gíc của mình và con người nắm lấy kỹ thuật, biết rằng “ trong kỹ thuật cuối cùng không nhắm đến sự hữu dụng và sự tốt đẹp, nhưng là thống trị, một thứ thống trị với ý nghĩa tuyệt đối của nó.”[87] Vì thế, “nó tìm cách nắm bắt các yếu tố thiên nhiên, cũng như các yếu tố của hiện sinh con người” [88]. Khả năng quyết định, sự tự do đích thực và không gian sáng tạo của từng người bị thu hẹp lại.

109. Sự thực dụng công nghệ kỹ thuật hướng đến việc thống trị kinh tế và chính trị. Kinh tế nắm lấy từng phát triển kỹ thuật để phục vụ cho lợi nhuận, không chú tâm đến hệ quả tiêu cực có thể xảy ra cho con người. Tài chính bóp chết kinh tế thật sự. Người ta chưa học được những bài học từ những cuộc khủng hoảng tài chính trên khắp thế giới, và cũng học rất chậm các bài học về ô nhiễm môi trường. Vài người cho rằng, kinh tế và kỹ thuật hiện tại có thể giải quyết được vấn đề môi trường, cũng như người ta quả quyết với ngôn ngữ bình dân, vấn đề nghèo đói, khổ ải trong thế giới có thể dễ dàng giải quyết cách đơn sơ với việc phát triển thị trường. Đây không phải là vấn đề vế lý thuyết kinh tế, mà không ai bảo vệ được, nhưng thực sự nó có liên hệ đến sự phát triển kinh tế. Nhiều người không dám phát biểu điều này, họ bảo vệ hành động của họ, khi một số lượng thỏa đáng của sản phẩm, nhưng lại không chú tâm đến việc phân chia sự giàu sang cách tốt đẹp, môt liên hệ có trách nhiệm với môi trường hay quyền lợi của những thế hệ tương lai. Thái độ của họ cho thấy mục đích thật sự của họ là tuyệt đối hóa thu nhập. Nhưng thị trường tự nó không bảo đảm cho việc phát triển nhân bản trọn vẹn, cũng như cho xã hội. [89]. Chúng tôi cho rằng “cách thức phát triển siêu đẳng và nhằm vào lợi nhuận, không thể chấp nhận được trong những hoàn cảnh đau khổ mất nhân phẩm trường kỳ”[90] và những cơ quan kinh tế cũng như những chương trình xã hội cho phép người nghèo khổ nhất có thể tiếp cận đến các tài nguyên căn bản, cũng khó mà thực hiện cách nhanh chóng. Người ta sẽ không bao giờ suy nghĩ đủ về những nguyên nhân đưa đến việc bất bình đẳng hiện tại, có liên hệ đến mục đích, ý nghĩa và hiện trạng xã hội của việc phát triển kỹ thuật và kinh tế.

110. Sự đặc thù của kỹ thuật sẽ đem đến cho mình một sự khó khăn lớn để có thể nhìn toàn vẹn. Việc phân mảnh khả năng hiểu biết chu toàn phận vụ của mình, nếu chỉ nhắm vào những áp dụng cụ thể, nhưng thường làm mất đi ý nghĩa của tổng thể, những liên hệ giữa các vật, và cho cả tầm nhìn rộng rãi không còn ý nghĩa gì nữa. Điều này cũng ngăn cản việc tìm kiếm những lối đi thích hợp để giải quyết các vấn đề phức tạp của thế giới hiện tại – nhất là những vấn đề đụng chạm đến môi trường và người nghèo – , là những vấn đề không thể chỉ tiếp cận bằng một cái nhìn duy nhất hay dựa theo một thứ lợi ích. Một loại khoa học muốn đưa ra những giải đáp cho những đòi hỏi lớn lao, cần phải nhận thức tất cả sự hiểu biết về những bình diện kiến thức, bao gồm cả triết học và đạo đức xã hội. Đây là hướng đi rất khó đón nhận trong ngày hôm nay. Vì thế, người ta không dễ nhận ra tầm nhìn đạo đức mà người ta phải hướng vào. Cuộc sống cứ để mặc cho hoàn cảnh mang dấu ấn kỹ thuật, được xem như phương tiện duy nhất để giải thích cho hiện sinh của mình. Trong thực tế cụ thế mà chúng ta đối mặt, có nhiều hiện tượng xuất hiện rõ ràng cho thấy sai lầm – tỉ dụ như ô nhiễm môi trường, lo sợ và đánh mất ý nghĩa của cuộc sống và cộng đoàn. Người ta cũng thấy rõ ràng : “Thực tại đứng trên ý tưởng” [91].

111. Văn hóa sinh thái không thể bị đúc kết vào một chuỗi giải đáp khẩn cấp và manh múng cho các vấn đề nổi cộm như hũy hoại môi trường, làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và gây ô nhiễm. Phải tạo một cái nhìn khác thôi, một suy tư, một chính trị, một chương trình giáo dục, một cách sống và một tinh thần chống lại sự tiến triển của thực dụng kỹ thuật. Nói một cách khác, ngay cả những ý tưởng tốt đẹp về môi sinh cũng có thể chấm dứt qua việc đóng kín mình trong lý luận toàn cầu. Chỉ tìm phương cách kỹ thuật cho mỗi vấn đề môi trường mới xuất hiện, thì chỉ là tách biệt các sự vật, trong thực tế các sự vật này phải nối kết với tất cả thực tại, và che đậy những vấn đề sâu xa của hệ thống toàn cầu.

112. Có thể khai triển tầm nhìn. Sự tự do của con người có khả năng đặt ranh giới cho kỹ thuật, định hướng nó để phục vụ cho một mô mẫu phát triển, mạnh khỏe hơn, nhân bản hơn, mang tính xã hội nhiều hơn và trọn vẹn hơn. Sự giải thoát khỏi thống trị thực dụng của kỹ thuật diễn ra thật sự trong nhiều hoàn cảnh, tỉ như khi những cộng đoàn sản xuất nhỏ quyết định áp dụng những hệ thống sản xuất ít ô nhiễm hơn, nâng đỡ cho một cách sống hạnh phúc và liên kết với nhau không định hướng vào lợi nhuận; hay kỹ thuật định hướng cách giải quyết các vấn đề cụ thể của kẻ khác, với ý muốn giúp đỡ những kẻ khác sống xứng đáng và ít đau khổ hơn ; hay khi với một ý thức, tạo sự tốt đẹp và việc chiêm ngắm điều đẹp đẻ sẽ giúp người ta vượt qua quyền lực chỉ nhìn sự vật như đối tượng, như vậy sẽ đưa đến một cách giải thoát được thực hiện trong vẻ đẹp và trong con người đang chiêm ngắm vẻ đẹp. Nhân bản đích thực mời gọi chúng ta đi đến một tổng đề mới, xem như ở giữa văn minh kỹ thuật gần như bụi bậm thấm thấu qua cánh cửa đóng kín. Dù gì đi nữa, có thể có một sự phản kháng với điều được cho là đích thực hay không ?

113. Mặt khác, xem ra con người không còn tin vào một tương lai hạnh phúc nữa, họ không mù quáng tin vào một bình minh tốt hơn từ tình trạng hiện tại của thế giới và những khả năng kỹ thuật. Họ ý thức thực tại rằng sự phát triển khoa học và kỹ thuật không hứa hẹn cho tương lai và lịch sử hạnh phúc, và nhận thức rằng, những con đường cơ bản cho tương lai hạnh phúc phải rất khác. Người ta không còn nghĩ nhiều đến những khả năng kỹ thuật đem đến. Nhân loại đã thay đổi một cách sâu xa, việc gia tăng các điều luôn luôn mới chỉ đưa đến sự chóng qua dẫn chúng ta theo hướng nhìn sự vật chỉ hời hợt bên ngoài. Thực khó cho chúng ta để biết dừng lại, tìm sự sâu thẳm của cuộc sống. Khi các kỹ sư xây dựng phản ánh lại tinh thần của một thời đại, sẽ đưa các nhà cao tầng và một chuỗi cao ốc để làm nổi bật tinh thần kỹ thuật toàn cầu, trong đó điều mới mẽ thường trực của các sản phẩm sẽ kết hợp với sự chán ngán nặng trĩu. Chúng ta phản đối việc này và cũng không bỏ qua suy nghĩ để tìm hiểu mục đích và ý nghĩa của tất cả. Một cách khác, chúng ta phải chấp nhận hoàn cảnh hiện tại và cần đến những thế phẩm để chịu đựng sự trống rổng.

114. Điều đang xảy đến ngay lúc này đặt chúng ta vào tình trạng khẩn cấp đưa đến một cuộc giải phóng văn hóa thật can đảm. Khoa học và kỹ thuật không phải là vô thưởng vô phạt, nhưng từ đầu cho đến lúc cuối tiến trình, cũng chứa đựng nhiều ý đồ và khả năng để tạo dựng cách khác. Không ai đòi hỏi phải trở về thời đồ đá, khi người ta còn sống trong hang hóc, nhưng điều tất yếu là phải làm chậm lại bước tiến để nhìn vào thực tế một cách khác, đón nhận những bước tích cực và lâu dài, đồng thời đánh giá lại các giá trị và những mục đích lớn lao nhưng bị phá vỡ bởi một sự cuồng nhiệt hoang tưởng.

[Trở lại Mục Lục]

III. KHỦNG HOẢNG VÀ HẬQUẢ CỦTHUYẾT DUY NHÂN TÂN THỜI

115. Thuyết nhân bản tân tiến cuối cùng đi đến nghịch lý vì đã đặt lý luận kỹ thuật lên trên thực tế, chỉ vì “con người không còn cảm nhận thiên nhiên như một định lệ có giá trị, cũng không đem lại cho mình một nơi trú ẩn sống động. Con người không còn nhìn thiên nhiên dưới một định kiến thích hợp như không gian và chất liệu cho một công trình mà người ta có thể quăng đi, không cần biết kết quả như thế nào” [92]. Với cách thức này, giá trị mà thế giới mang trong mình, sẽ yếu đi. Nhưng nếu con người không tái khám phá vị trí địch thực của mình, họ sẽ không hiểu rõ về mình và cuối cùng phản lại thực tại của mình.. “Không chỉ có trái đất được Thiên Chúa ban cho con người, nhưng khi con người sử dụng, phải chú ý đến chủ đích đầu tiên khi nó được ban cho con người; nhưng con người cũng được Thiên Chúa ban cho chính mình và phải tôn trọng cấu trúc tự nhiên và luân lý mà trái đất được tạo thành” [93].

116. Trong thời tân tiến, có một thứ chủ thuyết nhân bản tập trung vào con người một cách vô độ, dưới nhiều hình thức khác, vẫn tiếp tục trong ngày hôm nay hủy hoại các liên hệ chung và tìm cách củng cố các liên hệ xã hội. Vì thế đã đến lúc phải chú tâm đến thực tế với các ranh giới mà chúng thiết đặt và các khả năng đưa đến một sự phát triển lành mạnh, có hiệu quả trong lãnh vực con người và xã hội. Một cách trình bày không đầy đủ về nhân học Kitô giáo có thể đưa đến một quan niệm sai lầm về liên hệ giữa con người với thiên nhiên. Thường là một giấc mơ ảo tưởng Prométhé về chủ quyền trên thế giới, gợi lên ý tưởng như là sự lo lắng cho thiên nhiên là chuyện của những người yếu kém. Cách nghĩ đúng đắn quan niệm con người như “chủ” của vũ trụ, nằm ở chỗ, con người phải là quản lý có trách nhiệm.

117. Sự thiếu sót về việc chăm sóc để đo lường những tai hại cho thiên nhiên và hậu quả môi sinh của các quyết định, đó chỉ là phản ánh rõ ràng nhất của việc không thích thú gì để nhận thực sứ điệp mà thiên nhiên được ghi khắc trong cơ cấu của mình. Khi người ta không nhận ra trong một thực tế, giá trị của người nghèo, của một bào thai, một cá nhân phải sống trong tình trạng thương tật – để chỉ nêu ra vài tỉ dụ – người ta cũng sẽ rất khó để lắng nghe tiếng gào thét của thiên nhiên. Tất cả đều liên kết với nhau. Nếu con người cho mình hoàn toàn độc lập với thực tại và mình là chủ tuyệt đối, thì nền tảng hiện sinh của mình sẽ tự nó bị đổ vỡ, “thay vì trách nhiệm như là người cùng hoạt động với Thiên Chúa để thực hiện công trình sáng tạo, con người lại tự đặt mình vào vị trí của Thiên Chúa và cuối cùng gợi lên sự chống đối của thiên nhiên” [95].

118. Hoàn cảnh này đưa chúng ta vào một thứ thần kinh phân lập triền miên, chỉ biết tôn vinh kỹ thuật mà không nhận ra giá trị của những sinh vật khác, đến độ phủ nhận giá trị đặc biệt của con người. Nhưng người ta không thể bỏ qua nhân loại được. Sẽ không có một liên hệ mới nào với thiên nhiên mà không có con người mới. Sẽ không có môi sinh học mà không có nhân học thích ứng. Khi con người bị xem như một hữu thể giữa các hữu thể khác, xuất xứ từ một trò chơi của tình cờ hay một thứ tiền định vật lý, bấy giờ “ý thức trách nhiệm bị xóa đi trong lương tâm”[96]. Một chủ thuyết nhân bản sai lệch không thể dành chỗ cho thuyết “tập trung vào sinh học” vượt lên trên được, như thế có nghĩa là đưa đến một liên hệ mất thăng bằng, không những không giải quyết được các vấn đề, nhưng lại càng gây thêm nhiều vấn đề khác. Người ta không thể đòi hỏi từ con người một sự dấn thân tôn trọng đối với thế giới, nếu không công nhận kiến thức, ý chí, tự do và tinh thần trách nhiệm đặc biệt của con người và đánh giá cao các khả năng đó.

119. Việc phê phán chủ thuyết nhân bản lệch lạc đã đưa ý nghĩa các liên hệ giữa con người vào hậu cảnh. Khi cơn khủng hoảng môi sinh mang ý nghĩa một sự phá vở hay là làm nổi bật một cơn khủng hoảng về mặt luân lý, văn hóa và tinh thần của thời hiện đại, chúng ta không thể đòi hỏi việc chữa trị cho liên hệ của chúng ta với thiên nhiên và môi trường, mà không chữa trị liên hệ nền tảng giữa con người. Khi suy tư Kitô giáo đòi buộc một giá trị đặc biệt cho con người đối với các thụ tạo khác, sẽ có cơ hội để đánh giá từng cá nhân và đòi phải công nhận những kẻ khác. Một khai mở cho “một người đối diện” với khả năng nhận biết, yêu thương và đối thoại, thì đó là một giá trị quí giá của con người, Vì thế, để có một liên hệ thích hợp với thế giới thụ tạo, thì không cần phải đánh giá thấp chiều kích xã hội của con người, cũng như chiều kích siêu vượt, sự cởi mở cho Thiên Chúa. Thật vậy, người ta không thể nhìn liên hệ với môi trường bị tách biệt khỏi liên hệ với những người khác và với Thiên Chúa. Đó có lẽ chỉ là một nét đẹp của môi trường, ẩn giấu dưới một chủ thuyết cá nhân lãng mạn và một sự đóng kín nghẹt thở trước siêu vượt.

120. Vì tất cả nằm trong liên hệ, nên việc bảo vệ thiên nhiên không được làm cớ để hợp thức hóa việc phá thai. Một con đường giáo dục, đón nhận người yếu đuối chung quanh chúng ta, đôi khi cũng làm cho chúng ta khó chịu hay không cần thiết, xem ra không thể thực hành được, khi người ta không bảo vệ một bào thai, ngay như việc sinh nở làm cớ cho những khó khăn và bất lợi : “Khi ý nghĩa cá nhân và xã hội đối với việc chấp nhận một cuộc sống mới bị mất đi, thì những hình thức đón nhận hữu ích cho đời sống xã hội cũng bị khô cằn”[97].

121. Đang có một triển khai cho một tổng đề mới có thể lướt thắng những biện chứng sai lệnh của thế kỷ cuối cùng, Kitô giáo, trung thành với căn tính của mình và bảo vệ gia sản chân lý được đón nhận từ Đức Giêsu Kitô, sẽ luôn suy nghĩ lại và diễn tả trong một cuộc đối thoại với những dữ kiện lịch sử mới, qua đó làm nổi bật điều mới mẽ vĩnh cửu [98].

[Trở lại Mục Lục]

Thuyết tương đốthựhành

122. Một chủ thuyết qui nhân bản sai lệch sẽ làm cớ cho một cách sống cũng lệch lạc. Trong Tông Huấn Evangelii gaudium –Niềm vui Tin Mừng – Tôi đã nói đến thuyết tương đối thực hành đánh dấu cho thời đại của chúng ta và “còn nguy hiểm hơn lý thuyết tương đối”[99]. Khi tự đặt mình vào vị trí trung tâm, con người sẽ đi đến việc khẳng định quyền ưu tiên cho lợi ích và tất cả những gì còn lại đều tương đối. Vì thế, không có gì đáng ngạc nhiên, sự hiện diện khắp mọi nơi của việc thực dụng kỹ thuật và việc tôn vinh quyền vô hạn của con người sẽ đưa đến việc triển khai thuyết tương đối giữa con người, với thuyết này tất cả đều tương đối, nếu như không trực tiếp phục vụ cho lợi ích cá nhân. Trong đó có một lô-gíc giúp chúng ta hiểu rằng có nhiều thái độ khác nhau gây sự hủy hoại môi trường và gây tai họa cho xã hội.

123. Văn hóa của thuyết tương đối cũng là bệnh hoạn, đẩy con người đến việc lợi dụng kẻ khác và xử sự người đó như chỉ là đối tượng, buộc họ phải thực hiện các lao động khổ sai hay vì mang nợ mà trở thành một người nô lệ. Đó cũng là lối suy nghĩ đưa đến việc hiếp dâm trẻ em hay bỏ rơi người già lão, nếu không phục vụ được lợi ích của mình. Đó cũng là thứ lô-gíc nội tâm của những người muốn nói : Hãy để cho các sức mạnh vô hình của thị trường điều chỉnh kinh tế, chỉ vì các hậu quả của nó trên xã hội và thiên nhiên là không thể tránh được.Nếu như không có những chân lý khách quan cũng như những nền tảng vững chắc, ngoài việc thỏa mãn những chương trình của riêng mình và những nhu cầu trực tiếp – thì hoạt động của con người còn gì ranh giới trong các tổ chức tội phạm, buôn bán ma túy, buôn bán kim cương vấy máu và da thú vật, là những con thú đang trên đường tuyệt chủng ? Đấy không phải là cách suy nghĩ tương đối hợp thức hóa việc buôn bán hay sử dụng các bộ phận của người nghèo hay là việc “quăng” các em bé, chỉ vì không đáp ứng được các ý muốn của cha mẹ chúng ? Đấy cũng là cách suy nghĩ “sử dụng và quăng đi”, vì tạo ra quá nhiều rác thải, gây nên do khao khát vô độ, nhiều hơn tiêu thụ như con người cần thiết. Vì thế, chúng ta đừng nghĩ rằng các chương trình chính trị hay là quyền lực luật lệ đủ để tránh những thái độ kéo theo môi trường vào việc cùng đau khổ. Chỉ vì khi văn hóa sa đọa và người ta không còn công nhận một chân lý khách quan hay những nguyên tắc chung được chấp nhận; như thế luật lệ chỉ là những bó buộc và như rào cản vây quanh con người.

[Trở lại Mục Lục]

CẦTHIẾPHẢBẢVỆ LAO ĐỘNG

124. Trong bất cứ tiếp cận một môi sinh học trọn vẹn, không thể loại con người ra được, tất yếu phải hội nhập giá trị của lao động, đó là điều Vị thánh Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã trình bày cách sáng suốt trong Thông Điệp Laborem exercens. Chúng ta nhớ lại rằng, theo trình thuật Thánh Kinh về sáng tạo, Thiên Chúa đã đặt con người vào vườn địa đàng vừa mới tạo dựng (so St 2,15), không những để gìn giữ (bảo vệ) , nhưng còn để lao động cho thửa vườn sinh hoa kết quả. Với cách này những người lao động và thợ thủ công “bảo đảm cho sáng tạo vĩnh cửu của Thiên Chúa” (so Hc 38, 34 LXX). Trong thực tế, sự can thiệp của con người nhằm vào việc phát triển sáng tạo cách hợp lý, là hình thức tương xứng nhất để chăm sóc. Điều này cũng được xem như công cụ của Thiên Chúa giúp đặt vạn vật đúng chỗ, và giúp phát triển các khả năng mà Thiên Chúa đã đặt vào trong vạn vật : “Thiên Chúa làm cho đất trổ sinh dược liệu ; những thứ đó, người khôn chẳng dám coi thường’ (Hc 38, 4).

125. Nếu chúng ta cố suy nghĩ về những gì liên kết con người với thế giới chung quanh, cần thiết phải có một quan niệm đúng đắn về lao động. Vì nếu chúng ta nói về liên hệ của con người với vạn vật, sẽ xuất hiện câu hỏi về ý nghĩa và mục đích của hoạt động con người trên thực tại. Chúng ta không chỉ nói về lao động chân tay hay lao động trên mặt đất, nhưng tất cả hoạt động có thể làm thay đổi điều gì đang hiện hữu, từ việc đưa ra một quan sát xã hội cho đến dự án phát triển về mặt kỹ thuật. Mỗi hình thức lao động đều nêu lên một quan niệm về liên hệ mà con người có thể hay phải đón nhận kẻ khác. Linh đạo Kitô giáo, với việc thán phục khi chiêm ngắm vạn vật, như chúng ta đã gặp nơi thánh Phanxicô Assisi, còn khai triển ý nghĩa sâu xa của lao động, như chúng ta thấy nơi gương của chân phước Charles de Foucauld và các môn đệ của ngài.

126. Chúng ta đón nhận vài điều từ truyền thống tu sĩ. Lúc khởi đầu, một cách nào đó truyền thống này tạo nên sự trốn lánh thế gian với ý muốn lánh xa sự sa đọa nơi thành phố. Vì thế các nhà ẩn tu đã tìm đến sa mạc, vì họ tin rằng, đây là vị trí thích hợp để cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa. Sau đó, thánh Bênêđictô thành Nurcia ra lệnh cho các tu sĩ của mình sống thành những cộng đoàn và liên kết lời cầu nguyện và việc học cùng với lao động chân tay (“ora et labora” – “cầu nguyện và lao động”). Việc đưa lao động chân tay thấm nhuần ý nghĩa cầu nguyện, mang tính cách mạng. Người ta học hỏi việc trưởng thành trong việc hội nhập chiêm niệm và lao động. Đó là cách thức sống lao động giúp chúng ta chú tâm và tôn trọng môi trường và giúp cho liên hệ của chúng ta với thế giới trong một sự điều độ thánh thiện.

127. Chúng ta nói rằng “con người là tác giả, trung tâm và mục đích tất cả đời sống kinh tế-xã hội” [100]. Dù vậy, khi khả năng chiêm ngắm và tôn trọng bị lệch lạc nơi con người, sẽ xuất hiện các điều làm ý nghĩa lao động bị sai lệch [101]. Phải luôn nhớ rằng, con người có “khả năng” nắm lấy “trách nhiệm tạo hạnh phúc về mặt vật chất, bước tiến luân lý, sự triển nở tinh thần” [102] Lao động phải là nơi phát triển nhiều mặt của con người, nơi nhiều chiều kích cuộc sống đang triển nở : sự sáng tạo, dự phóng cho tương lai, phát triển mọi khả năng, thực hành các giá trị, liên hệ với kẻ khác, thái độ thờ phượng. Vì thế, thực tế xã hội toàn cầu trong hiện tại, vượt qua các lợi ích được hạn định của các nhà kinh doanh và một suy luận kinh tế có thể bàn thảo được, cần thiết “xem điều ưu tiên cần phải theo đuổi là tạo cho mọi người được tiếp cận với lao động” [103].

128. Chúng ta được mời gọi phải lao động từ khi được sáng tạo. Người ta đừng tìm cách cho sự tiến triển kỹ thuật sẽ thay thế cho lao động con người, nếu như thế, con người sẽ sa sút. Lao động là một điều cần thiết, là một phần ý nghĩa của cuộc sống trên trái đất này, con đường đi đến trưởng thành, phát triển con người và hiện thực cá nhân mình. Theo nghĩa này, dùng tiền để giúp người nghèo chỉ là một cách giải quyết dự trù để đối mặt với những vụ việc khẩn cấp. Mục đích chính phải tạo khả năng cho họ có một đời sống xứng đáng với lao động của họ. Thế nhưng định hướng kinh tế tạo nên cách phát triển kỹ thuật để hạ giá thành sản phẩm, bằng cách giảm bớt các chỗ làm được thay bằng máy móc. Thật là ảo tưởng theo cách cho hoạt động con người như chống lại chính họ. Việc giảm bớt công ăn việc làm “sẽ tạo nên một tác động tiêu cực trên bình diện kinh tế ngang qua việc xói mòn tiệm tiến của “tư bản xã hội” đặc biệt qua việc chôn vùi tất cả mọi liên lạc, dựa vào sự tin tưởng, sự vững vàng và tuân giữ luật lệ và đó là những điều không thể thiếu trong đời sống chung của xã hội” [104]. Cuối cùng : “Giá trị con người cũng luôn là giá trị kinh tế”, và những sự lệch lạc kinh tế cũng kéo theo giá trị con người”. Ngưng đầu tư vào con người để đạt được những lợi lộc trực tiếp là môt thứ trao đổi xấu cho xã hội.

129. Để có thể tạo công ăn việc làm, cần thiết phải đòi buộc nền kinh tế có thể dễ dàng tạo nhiều sản phẩm thật đa dạng và sự sáng tạo của các nhà thầu. Tỉ dụ như có một sự khác biệt lớn trong hệ thống lương thực đồng áng của những chiều kích nhỏ tiếp tục tạo lương thực cho phần lớn dân sự toàn cầu, khi sử dụng một lượng nhỏ đất đai cũng như nước, và ít thải ra rác rưởi, có thể là những mảnh đất nông nghiệp nhỏ hay là vườn tược, hay nhờ săn bắn, thu nhặt những sản phẩm của rừng hay đánh cá bằng các lưới nhỏ. Những thứ kinh tế lớn, đặc biệt là trong môi trường nông nghiệp, sẽ đưa đến việc những nhà nông nghèo phải bán đất hay phải bỏ cách trồng trọt cổ điển. Những cố gắng của một số người triển khai một hình thức sản xuất khác, cũng phải chấm dứt vì lý do các khó khăn để bước vào thị trường của vùng hay toàn cầu, hay chỉ vì hạ tầng cơ sở buôn bán và chuyên chở chỉ để phục vụ cho các doanh nghiệp lớn. Những người mang trách nhiệm có quyền và có trách nhiệm để nâng đỡ rõ ràng và vững chắc cho các nhà sản xuất nhỏ và sự đa dạng của các sản phẩm. Để có thể có một sự tự do về mặt kinh tế mà tất cả mọi người có thể hưởng lợi, đôi khi cần xác định ranh giới cho những người có nhiều phương tiện và quyền hành tài chính. Một sự tự do về mặt kinh tế thuần túy theo lý thuyết, nhưng lại ngăn chận các điều kiện thực tế, mà nhiều người không thể tiếp cận được, gây khó khăn cho việc tiếp cận lao động, thì đó là một bài diễn văn nghịch lý, bôi nhọ chính trị. Hoạt động kinh doanh là một ơn gọi cao quí và nhắm vào việc xây dựng hạnh phúc và làm cho thế giới dành cho mọi người được tốt đẹp hơn, có thể là một cách thức mang lại nhiều hoa trái khi tác động vào vùng miền mà họ xây dựng các dự phóng, nhất là khi họ hiểu rằng, việc tạo công ăn việc làm là một phần tất yếu cho việc phục vụ cho lợi ích cộng đoàn.

[Trở lại Mục Lục]

CANH TÂN SINH HỌTỪ VIỆTÌHIỂU

130. Trong nhản quan triết và thần học về sự sáng tạo, mà tôi cố gắng trình bày, rõ ràng là con người nhân bản đặc biệt với lý trí và khoa học, không phải là một tác nhân bên ngoài, có thể hoàn toàn bị loại. Dù con người có thể can thiệp vào thế giới thảo mộc và thú vật và sử dụng chúng cho bản thân mình, khi cần thiết cho sự sống; sách Giáo Lý toàn cầu dạy rằng, các thí nghiệm trên thú vật đều được phép chỉ khi nào “chúng nằm trong ranh giới hợp lý và được tìm hiểu đế chăm sóc và cứu chữa cuộc sống con người” [106]. Sách giáo lý nhắc lại rõ ràng, quyền lực con người có giới hạn : “Hành động làm đau đớn và giết thú vật một cách vô ích, sẽ xúc phạm đến phẩm giá con người” [107]. Mỗi việc sử dụng và thí nghiệm “đòi buộc phải có một sự tôn trọng về mặt tôn giáo đối với tính trọn vẹn của sáng tạo” [108].

131. Về điểm này, tôi muốn lấy lại thái độ quân bình của vị thánh Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II, khi cho thành công của các tiến bộ khoa học và kỹ thuật, “là những biểu lộ ơn gọi cao quí của con người, chia sẻ một cách có trách nhiệm vào hoạt động sáng tạo của Thiên Chúa trong thế giới… nhưng đồng thời cũng nhớ rằng, bất cứ sự can thiệp vào môi sinh cũng không thể bỏ qua những hậu quả của nó trên những bình diện khác” [109], Ngài nhấn mạnh, Giáo Hội đánh giá cao việc học hỏi và áp dụng môi sinh phân tử, được bổ túc bằng các môn khác như di truyền học và việc áp dụng kỹ thuật vào nông nghiệp và công nghiệp” [110], Ngài cũng nói, “điều này không thể đưa đến một thao tác theo di truyền mà không có chủ đích” [111], không biết đến các hậu quả tiêu cực từ những can thiệp này. Không thể nào ngăn chận sức sáng tạo của con người. Nếu người ta không thể ngăn cản một nghệ nhân muốn phát triển khả năng sáng tác của mình, thì người ta cũng không thể ngăn cản những người có năng khiếu khoa học và kỹ thuật cũng như các khả năng Thiên Chúa ban để phục vụ kẻ khác. Đồng thời người ta cũng không thể ngưng xác định các mục đích, các hậu quả, các liên hệ và ranh giới luân lý của những hoạt động nhân bản này, là một hình thức của quyền lực với những thử thách cao độ.

132. Chính trong vấn đề này, cũng cần phải xác định mọi suy tư về sự can thiệp của con người trên thảo mộc và thú vật – điều này có liên hệ đến những thay đổi mang tính di truyền do kỹ thuật sinh thái – để có thể khai thác các khả năng hiện diện trong vật chất. Việc tôn trọng niềm tin đối với lý trí đòi hỏi phải chú tâm điều mà khoa sinh thái, được triển khai bằng nhiều cách độc lập nhờ qua các lợi ích kinh tế, có thể chỉ dạy trên các cơ cấu sinh học cũng như những khả năng và các chuyển đổi của chúng. Dù sao đi nữa, sự can thiệp hợp lý tác động trên tự nhiên, “để giúp nó phát triển theo đường hướng của mình, đường hướng của sáng tạo, đường hướng do Thiên Chúa muốn” [112]

133. Thật khó để đưa ra một phán quyết chung về những việc chuyển đổi gen (GMO) của cây trồng và vật nuôi, trên bình diện y học hay chăn nuôi và nông nghiệp, vì chúng rất khác nhau, nên cần phải có những phán quyết cũng khác nhau. Mặt khác, những bất trắc không hoàn toàn do kỹ thuật, nhưng do việc áp dụng không thích hợp hay quá đáng. Trong thực tế, việc chuyển đổi gen thường là do tự nhiên. Ngay cả những việc can thiệp của con người cũng không phải là hiện tượng gì mới lạ. Việc thuần thục các thú vật, việc giao nhau giữa giống loài và những thực hành xa xưa và phổ biến được công nhận có thể nằm trong những nhận định này. Người ta nhớ rằng, khởi đầu cho việc phát triển khoa học về hạt giống chuyển đổi gen xuất phát từ việc quan sát một vi khuẩn, theo cách thức tự nhiên đã đem đến một sự chuyển đổi trong bộ gen của một thảo mộc. Trong thiên nhiên, những tiến trình này đi theo một nhịp điệu chậm chạp, không thể so sánh với vận tốc phát triển kỹ thuật hiện hành, ngay cả khi dựa vào sự phát triển khoa học của nhiều thế kỷ.

134. Dù chúng ta không nắm được các chứng cứ về những tổn thất cho con người do các giống được chuyển gen – trong một vài vùng đã sử dụng, đưa đến sự phát triển về mặt kinh tế, giúp giải quyết những vấn đề – cũng có nhiều khó khăn lớn lao, không thể được xem là tương đối được. Nhiều nơi đã áp dụng cách canh tác này, người ta nhận thấy một sự tập trung đất đai canh tác vào tay một số ít người, đưa đến việc “những người sản xuất nhỏ dần dần biến đi, hậu quả là mất đất canh tác, phải gia nhập vào sản xuất hiện hành” [113] Những người yếu đuối nhất sẽ trở thành lao công tạm thời, và nhiều nông dân phải trốn trú vào những khu nghèo khổ trong thành phố. Việc gia tăng diện tích kiểu canh tác này phá hủy mạng lưới đa dạng của hệ thống môi sinh, làm giảm đi sự đa dạng trong sản xuất và ảnh hưởng đến hiện tại và tương lai kinh tế trong vùng. Trong nhiều nước khác, người ta thấy xu hướng phát triển các vựa nhỏ trong việc sản xuất lúa giống và các sản phẩm khác cho việc canh tác, và việc lệ thuộc sẽ còn nặng nề hơn với việc sản xuất các hạt giống cằn cỗi, để rồi cuối cùng các người nông dân phải mua hạt giống nơi các hộ kinh doanh.

135. Đương nhiên, cần phải có một sự chú tâm liên lĩ đến những phương diện luân lý ẩn chứa trong vấn đề. Vì lý do này cần phải bảo đảm một cuộc thảo luận khoa học và xã hội có tránh nhiệm và rộng rãi, có khả năng đón nhận các thông tin đang có trong tay và gọi sự vật theo đúng tên của chúng. Đôi khi, người ta đã không chú tâm đến tất cả thông tin đã được chọn lọc, như chỉ chú tâm đến các thông tin có lợi đặc biệt, có thể về mặt chính trị, kinh tế hay ý thức hệ. Điều này sẽ làm cho việc đánh giá hóa ra khó khăn về những vấn đề khác nhau vì không có một phán đoán quân bình và cẩn thận. Cần phải có không gian trao đổi về tất cả những gì trực tiếp hay gián tiếp đụng chạm đến vấn đề (nông nghiệp, người tiêu thụ, những người có trách nhiệm, các nhà khoa học, những người sản xuất hạt giống, những người sống gần vùng những cách đồng đã được xử lý và nhiều vấn đề khác) phải nêu lên những khó khăn hay tiếp cận và những thông tin trọn vẹn và vững chắc, để có thể đưa ra những quyết định cho công ích trong hiện tại và cho tương lai. Đây là một vấn đề về môi trường đa dạng đòi buộc phải xử lý với cái nhìn toàn vẹn các phương diện của nó, điều này đòi buộc ít ra là một cố gắng tài chính để tìm hiểu bằng nhiều con đường độc lập và liên khoa hầu đem lại một ánh sáng mới.

136. Mặt khác, cũng phải chú ý đến những phong trào môi sinh muốn bảo vệ sự trọn vẹn của môi trường và đòi hỏi phải có luật lệ cho những ranh giới được xác định đối với việc tìm hiểu khoa học, cho đến bây giờ các nguyên tắc này chưa được áp dụng vào cuộc sống con người. Nói cách chung, người ta tin rằng được phép vượt qua tất cả ranh giới khi người ta thí nghiệm trên các bào thai con người. Người ta quên rằng, giá trị bất biến của một con người nằm bên ngoài các giai đoạn phát triển. Cũng theo cách thức đó, kỹ thuật, một khi phủ nhận các giá trị lớn của luân lý, không thể nhìn bất cứ thực hành nào là hợp pháp. Như chúng ta đã nhìn trong chương này, kỹ thuật một khi tách rời khỏi luân lý rất khó ngăn chận quyền lực của mình được.

[Trở lại Mục Lục]

CHƯƠNG BỐN

MỘT MÔI TRƯỜNG HỌTRỌVẸN

137. Đối mặt với thực tại : tất cả đều liên kết với nhau chặt chẽ và các vấn đề hiện tại đòi buộc phải có tầm nhìn về cuộc khủng hoảng toàn cầu. Tôi đề nghị, chúng ta phải dừng lại để nắm các yếu tố của một môi trường học trọn vẹn, trong đó có cả chiều kích nhân bản và xã hội.

I. SINH THÁHỌC MÔI TRƯỜNG, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI

138. Sinh thái học tìm hiểu những liên hệ giữa các sinh vật sống động và môi trường nơi chúng sống. Điều này đòi hỏi phải suy nghĩ và bàn thảo một cách thẳng thắn các điều kiện của sự sống hay sự tồn tại của một xã hội để đưa ra những câu hỏi, các mẫu phát triển, sản xuất và tiêu thụ. Cần phải nhấn mạnh là tất cả đều liên kết với nhau, thời gian và không gian không thể độc lập với nhau cũng như các nguyên tử và các phần nhỏ nhất có thể tách biệt nhau được. Tất cả các yếu tố khác biệt của hành tinh – vật lý, hóa học và sinh học liên kết với nhau, tạo thành những giống loài sống động trong một mạng lưới mà chúng ta không bao giờ có thể biết và hiểu hết được. Chúng ta chỉ có chung một phần lớn các thông tin về di truyền học với nhiều loài sinh vật. Vì lý do này, chúng ta chỉ có những kiến thức manh mún và đơn độc, có thể trở thành một hình thức dốt nát, nếu như chúng không được hội nhập vào cái nhìn tổng quát của thực tại.

139. Khi nói đến “môi trường”, người ta muốn nói về sự liên hệ đã có giữa thiên nhiên và xã hội đang hiện diện nơi đó. Điều này ngăn cản chúng ta hiểu biết thiên nhiên là một cái gì đó khác biệt với chúng ta hay chỉ là một khung cảnh đơn thuần của cuộc sống. Chúng ta bị nhốt trong đó, là một phần của nó và cùng sống với nó qua việc thông hiệp hỗ tương với nhau. Để tìm những nguyên nhân hủy hoại của một vị trí, đòi buộc phải có sự phân tích phận vụ xã hội, kinh tế, các mẫu liên hệ và cách hiểu thực tại. Đối diện với quá nhiều thay đổi không còn khả năng để tìm cách giải quyết đặc biệt và độc lập cho mỗi phần vấn đề. Điều quyết định chính là phải tìm những cách giải quyết trọn vẹn, phải chú ý đến hậu quả thay đổi giữa nhau của hệ thống tự nhiên và cả hệ thống xã hội. Không phải có hai cơn khủng hoảng cận kề nhau, một của mội trường và một của xã hội, nhưng thực ra chỉ có một cơn khủng hoảng duy nhất mang tính xã hội-môi trường. Những cách giải quyết đòi hỏi một lối đi trọn vẹn để chiến đấu với nghèo đói, trả lại phẩm giá cho những người bị loại ra khỏi xã hội và đồng thời phải chú tâm đến thiên nhiên.

140. Dựa vào số lượng lớn và đa dạng các yếu tố phải quan sát, ngay khi nhìn tác động của một dự phóng cụ thể về môi trường, cần phải trao cho những người tìm hiểu một vai trò tương xứng và tạo điều kiện dễ dàng cho việc cộng tác với một sự tự do thuộc cấp đại học. Việc tìm hiểu lâu dài này cần đưa đến những kiến thức, để hiểu những sự khác biệt của sinh vật liên kết với nhau và tạo sự thống nhất lớn lao mà ngày nay chúng ta gọi là “hệ thống môi sinh”. Chúng ta đón nhận chúng, không phải để xác định ích lợi của chúng, cách hợp lý, nhưng vì chúng có những giá trị độc lập khỏi việc sử dụng. Mỗi sinh vật đều tốt đẹp và đáng kinh ngạc, vì đó là một sáng tạo của Thiên Chúa, cũng thế, toàn thể sự hòa hợp các sinh vật trong một không gian xác định sẽ hoạt động như một hệ thống. Cho dù chúng ta không ý thức, chúng ta cũng lệ thuộc vào tổng thể này cho sự sống của chúng ta. Chúng ta phải nhớ rằng, hệ thống sinh thái sẽ tác động trên việc chuyển đổi thán khí điôxít, vào việc tẩy sạch nước, trên việc kiểm soát bệnh tật và dịch bệnh, cho việc tạo đất đai, phân hóa các rác thải và tác động trên nhiều bình diện khác mà chúng ta quên hay chưa suy nghĩ tới. Nhiều người, một khi hiểu biết được điều này, ý thức rằng chúng ta sống và hoạt động dựa trên nền tảng một thực tại đã được ban cho chúng ta trước, trước cả khả năng và hiện sinh của chúng ta. Vì thế khi người ta nói về “việc sử dụng lâu dài”, phải luôn ý thức đến khả năng tái tạo mỗi một hệ thống môi sinh trong nhiều lãnh vực và phương diện khác nhau.

141. Mặt khác, việc phát triển kinh tế hướng về việc tạo những máy móc tự động và “đồng nhất hóa – homogenisieren” với mục đích, giảm bớt chuyển động và giảm bớt giá thành. Vì thế cần đến một sinh thái học kinh tế, có khả năng nhìn một cách tổng quát thực tại. Vì “việc bảo vệ môi trường cũng phải được hội nhập vào tiến trình phát triền và không được nhìn một cách đơn độc” [114]. Nhưng đồng thời, hiện tại cần phải có một thuyết nhân bản, bao gồm nhiều lãnh vực kiến thức khác nhau – trong đó có cả kinh tế – để có được một cái nhìn trọn vẹn và bao quát. Ngày nay, việc phân tích vấn đề môi trường không thể tách rời một sự khảo sát môi trường sống của con người, liên hệ gia đình, các điều kiện lao động và liên hệ trong thành phố cũng như liên hệ con người với chính mình, qua đó xác định người đó liên hệ với kẻ khác và với môi trường. Có một liên hệ hỗ tương giữa hệ thống môi sinh và những thế giới khác trong xã hội và theo cách này cho thấy một lần nữa “toàn thể đứng trên từng phần” [115]

142. Nếu tất cả vạn vật đều liên kết với nhau, tình trạng các cơ chế của một xã hội cũng đều có những hệ luận về môi trường và về phẩm chất đời sống con người : “Mọi việc làm thương tổn sự liên đới và tình thân xã hội đều gây những tổn thất cho môi trường” [116]. Theo nghĩa này, khoa môi sinh xã hội cần phải có cơ chế và dần dần đến những chiều kích khác nhau bắt đầu từ những yếu tố xã hội cơ bản của gia đình, tiến đến cộng đồng địa phương và đất nước, cho đến đời sống quốc tế. Ngay chính trên mỗi bình diện xã hội và giữa nhau, hình thành các cơ chế, qui định các liên hệ giữa con người. Tất cả những gì làm tổn hại các cơ chế này, đều đưa đến những hậu quả tai hại : tỉ như đánh mất sự tự do hay xảy ra những điều bất công và bạo lực. Nhiều quốc gia đều dựa vào nền tảng các cơ chế được thiết lập, từ giá trị của quần chúng khổ đau và do lợi ích của những người lợi dụng tình trạng của vật chất. Dù ngay trong quản lý nhà nước, cũng như trên nhiều bình diện khác nhau của cộng đoàn xã hội hay giữa những !iên lạc của dân chúng, người ta cũng thu thập được nhiều thái độ khác xa lề luật. Những lề luật này được viết rất đúng, nhưng thường là những chữ chết. Người ta có thể hy vọng rằng những qui định và các luật lệ tương đối cho môi trường thực sự có hiệu quả hay không ? Tỉ như chúng ta biết nhiều quốc gia, có những lề luật rõ ràng để bảo vệ các cánh rừng, nhưng rồi cũng có những nhân chứng câm lặng cho việc thường xuyên vi phạm các lề luật đó. Ngoài ra, điều diễn ra trong miền khác, trực tiếp hay gián tiếp, tạo ảnh hưởng đến các vùng khác. Tỉ như, việc tiêu thụ ma túy trong các xã hội giàu sang, sẽ đưa đến câu hỏi rõ ràng và cấp thiết về vấn đề sản xuất đến từ các vùng nghèo đói, nơi các cách liên hệ đã sa đọa, tàn phá đời sống con người và cuối cùng hủy hoại cả môi trường chung quanh.

[Trở lại Mục Lục]

II. MÔI SINH HỌC VĂN HÓA

143. Cận kề gia sản tự nhiên, còn có gia sản lịch sử, nghệ thuật và văn hóa, tất cả đều bị hăm dọa. Đó là một phần căn tính chung của một vị trí và là nền tảng cho việc xây dựng một thành phố có thể trú ngụ được. Không kể đến việc tàn phá một điều gì đó hay xây dựng những thành phố mới có nhiều sinh thái hơn, nhưng để ở thì không thích thú mấy. Lịch sử, văn hóa và kỹ thuật xây dựng của một vị trí cũng phải được tính toán, để có thể bảo đảm được căn tính nguyên thủy của nó. Vì thế môi sinh học cũng phải chú tâm đến việc chăm sóc sự phong phú văn hóa của nhân loại theo nghĩa rộng nhất. Cách trực tiếp nhất, khi phân tích các vấn đề liên hệ đến môi sinh học, cũng phải chú tâm đến văn hóa địa phương, trong đó, người ta phải kết hợp ngôn ngữ của khoa học –kỹ thuật đối thoại với ngôn ngữ của dân chúng. Khi chú tâm đến liên hệ của con người với môi sinh, thì không thể loại bỏ văn hóa được, và không những chú tâm đến các đài kỷ niệm của quá khứ, nhưng còn đặc biệt chú tâm đến ý nghĩa sống động, năng nổ và chia sẻ.

144. Cái nhìn tiêu thụ của con người bị thúc đẩy bởi nguồn máy kinh tế toàn cầu hiện hành, có xu hướng tạo những thứ văn hóa đồng nhất với nhau, làm yếu đi sự đa dạng lớn lao về văn hóa như gia sản của nhân loại. Vì thế, người ta cố gắng giải quyết mọi khó khăn bằng việc điều chỉnh dựa theo luật lệ đồng nhất hay với sự tham gia của kỹ thuật năng động, từ đó đưa đền việc chểnh mãng bỏ qua sự đa dạng các vấn đề địa phương, những vấn đề đòi hỏi sự tham gia tích cực của dân chúng. Những tiến trình mới trong phát triển không được hội nhập vào các lược đồ từ bên ngoài xác định, nhưng phải tự phát từ nền văn hóa địa phương. Cuộc sống và thế giới rất năng động, vì thế cách thức chăm sóc mọi thứ cũng phải uyển chuyển và năng động. Những cách giải quyết thuần túy kỹ thuật sẽ gặp nguy hiểm, chỉ chú tâm đến hiện tượng, không đáp ứng đúng với các vấn đề. Cần phải có những đường hướng của luật lệ dân chúng và của các văn hóa; nếu hiểu theo cách thức như thế, thì việc muốn phát triển một nhóm xã hội cần phải nhìn trước tiến trình lịch sử trong đó có một sự cộng tác vững bền về mặt văn hóa, đòi buộc các tác nhân địa phương xuất phát từ văn hóa của chính mình luôn nắm vững vị trí hàng đầu. Ngay cả phẩm chất cuộc sống cũng không thể được thiết đặt, nhưng phải từ giữa thế giới biểu trưng và thói quen, là những thứ xác định cách đặc thù cho môt nhóm người.

145. Biết bao hình thức tập trung để bóc lột và tàn phá môi trường, không những làm cạn kiệt tài nguyên để sống tại địa phương, nhưng còn làm kiệt quệ những khả năng xã hội để giúp có được một cách sống, mà trong một thời gian dài, đã đem lại một căn tính văn hóa cũng như một ý nghĩa cho hiện sinh và sự sống chung. Việc làm biến đi một thứ văn hóa cũng nặng nề như làm biến đi một loài thú hay một loài cây cối. Việc thiết đặt một kiểu sống đơn nhất liên kết với một cách sản xuất có thể còn hại hơn là ảnh hưởng trên hệ thống môi sinh.

146. Theo nghĩa này, cần phải chú ý đến cộng đồng của dân nguyên thủy với văn hóa truyền thống của họ. Họ không phải là số ít giữa nhóm người khác, nhưng họ phải là những người đối thoại căn bản, nhất là khi người ta đưa ra những dự phóng lớn lao đụng chạm đến không gian của họ. Vì đối với họ, mảnh đất không phải là tài sản cho kinh tế, nhưng là hồng ân của Thiên Chúa và của tổ tiên họ đang an nghỉ tại đây ; một không gian thánh, với không gian này họ cùng hoạt động để gìn giữ căn tính và giá trị của họ. Khi họ sống trên mảnh đất của họ, thì chính họ là người gìn giữ nó tốt nhất. Trong nhiều phần trên trái đất, họ là đối tượng bị áp bức để lìa bỏ quê hương để cho mảnh đất này trống trải cho các dự án nông nghiệp và đánh cá, không chú tâm đến những tai hại trên thiên nhiên và văn hóa.

[Trở lại Mục Lục]

III. MÔI SINH HỌCỦĐỜSỐNG HẰNG NGÀY

147. Để nói về một sự phát triển đích thực, phải bảo đảm cho có một sự làm tốt trọn vẹn phẩm chất sống của con người, và điều này có nghĩa, người ta phải phân tích không gian, nơi con người đang sống. Khung trời bao quanh ảnh hưởng trên chúng ta trong cách nhìn cuộc sống, cảm nghiệm và hoạt động. Đồng thời, trong căn phòng của chúng ta, trong nhà, ngay nơi làm việc và trong khu phố, chúng ta sử dụng môi trường để diễn tả căn tính của mình. Chúng ta cố gắng thích ứng với môi trường chung quanh và khi môi trường này mất trật tự, xáo trộn hay bị lệnh lạc trong cái nhìn, trong tiếng ồn ào, đòi buộc chúng ta phải tìm ra nguyên nhân sự quá độ này để xây dựng lại căn tính trọn vẹn và hạnh phúc.

148. Thật đáng kinh ngạc cho sức sáng tạo và lòng quảng đại của một số người và một số nhóm, có khả năng nâng các ranh giới của môi trường, bằng cách thay đổi các hậu quả không thích hợp của các điều kiện và học hỏi để định hướng cuộc sống giữa những sự sái trật tự và không bảo đảm. Tỉ như có nhiều nơi, mặt tiền các ngôi nhà bị sa sút, có những người với nhiều phẩm chất, đã chăm sóc nội thất của họ, hay họ cảm thấy hạnh phúc vì sự thân mật và tình thân hữu của dân chúng chung quanh. Cuộc sống tích cực và hạnh phúc của dân chúng sẽ lan tỏa ánh sáng ra chung quanh chưa được thỏa đáng. Đôi khi môi sinh học nhân bản cũng đáng khen khi những người nghèo có thể phát triển giữa biết bao hạn hẹp. Cảm nghiệm nghẹt thở, do việc chất đống mọi thứ trong các căn phòng và các nơi đông nghẹt dân chúng tạo ra, có thể giải tỏa được, khi liên hệ giữa con người được phát triển nhờ sự gần gũi và nhiệt tâm thân thiện, khi các cộng đoàn được tạo nên, khi các ranh giới hạn hẹp môi trường trong thâm tâm mỗi người được giải tỏa vì cảm thấy mình được đón nhận vào trong mạng lưới một cộng đoàn và thuộc về nhau. Với cách thức này, không còn nơi nào là hỏa ngục cả và sẽ trở thành khung cho một cuộc sống xứng đáng.

149. Thật sự cũng rõ ràng, sự hủy hoại cực độ được cảm nghiệm trong nhiều hoàn cảnh, nơi không có sự hòa hợp, không gian và khả năng hội nhập, gây nên sự xuất hiện những thái độ bất nhân và thao tác trên con người qua các tổ chức tội phạm. Đối với dân chúng trong các phường khóm có vấn đề như thế, mỗi ngày bị ép vào một sự vô danh trong xã hội, mà người ta cảm nghiệm trong các thành phố lớn, một mặc cảm mất gốc đưa đến những thái độ chống đối xã hội và bạo lực. Nhưng tôi xin nhấn mạnh, tình yêu mạnh hơn. Trong các điều kiện này, nhiều người liên kết với những nhóm và chung sống với nhau, có thể thay đổi những đè nén trong cảm nghiệm của cộng đoàn, nơi giải tỏa được vách ngăn của cái tôi và chiến thắng được sự ích kỷ. Cảm nghiệm cứu độ dựa vào cộng đoàn là điều gây nên sự sáng tạo để làm tốt một ngôi nhà hay một khu phố.

150. Khi người ta xuất phát từ hiệu quả hỗ tương giữa không gian và thái độ của con người, những người vạch chương trình để xây dựng các cao ốc, những khu đô thị, các không gian rộng mở và thành phố, phải liên hệ với nhiều điều khác nhau, giúp hiểu được các tiến trình, biểu trưng và những thái độ của con người. Nếu chỉ lo làm đẹp không thôi thì chưa đủ, nhưng còn có giá trị nhiều hơn để phục vụ cho nhiều cách làm đẹp hơn nữa : phẩm chất đời sống con người, cách thích nghi của họ với môi trường, việc gặp gỡ và phụ giúp giữa nhau. Từ lý do đó, điều quan trọng, các viễn cảnh của dân chúng phải được luôn bổ túc cho sự phân tích qui hoạch thành phố.

151. Cần phải chăm sóc các nơi công cộng, các viễn cảnh và những điểm thông báo trong thành phố. Vì chúng ghi trong tâm hồn chúng ta ý nghĩa thuộc về, cảm giác căn cơ và ấn tượng “như trong nhà mình” ngay giữa thành phố đang ôm trọn và kết hợp chúng ta. Điều quan trọng là những phần khác trong thành phố được hội nhập trọn vẹn và dân chúng có được một toàn cảnh, thay vì tự đóng kín mình trong khu phố như một không gian thực sự chia sẻ với người khác. Tất cả sự can thiệp vào mảnh đất thuộc thành phố hay miền quê phải chú ý đến thực tế, những yếu tố khác nhau của địa phương, tạo nên một tổng thể mà dân chúng xem như một hình ảnh phong phú đầy ý nghĩa. Với cách này, những người khác sẽ không còn là kẻ xa lạ và cảm nghiệm là một thành phần của một thứ “chúng tôi” do chính chúng ta cùng nhau xây dựng. Cũng vì lý do đó, trong môi trường thành phố cũng như môi trường đồng quê, phải gìn giữ một vài nơi, tránh cho con người can thiệp vào, làm thay đổi.

152. Việc thiếu nơi cư trú là một vấn đề trầm trọng trong nhiều nơi trên thế giới, trong vùng đồng ruộng cũng như ngay giữa các thành phố lớn, chỉ vì quỹ nhà đất cho đô thành chỉ đáp ứng một phần nhỏ cho những người cần thiết. Không những kẻ nghèo mà ngay cả phần đông trong xã hội cũng gặp khó khăn trong vấn đề tìm một chổ trú ngụ riêng cho mình. Việc làm chủ một căn hộ cũng liên hệ rất nhiều đến phẩm giá của con người, cũng như sự phát triển của các gia đình. Đó cũng là một vấn nạn căn bản cho môn sinh thái nhân bản. Nếu như trong một nơi xác định đã có những ngôi nhà được xây thật lộn xộn, việc đầu tiên là thành phố hóa nơi này, nhưng không làm cho dân chúng mất gốc và giải tỏa họ. Nếu như những người nghèo sống trong những vùng ngoại ô dơ bẩn hay trong những xóm nhà nguy hiểm, nếu như người ta muốn giải tòa, thì “đừng gia tăng đau khổ thêm đau khổ […] nhưng cần phải cung cấp một dự án tương đối và sớm sủa, đưa ra những nơi trú ngụ xứng đáng và tham khảo cho những người có nhu cầu” [118]. Đồng thời sự sáng tạo phải hướng đến việc đưa các phường có vấn đề vào trong thành phố có thể đón nhận được. “Các thành phố tốt đẹp dường nào, có thể giúp vượt qua sự bất mãn bệnh hoạn bằng cách đưa những người khác biệt nhau vào trong một tác nhân phát triển. Thành phố đẹp chừng nào, ngay trong những kiến trúc, có nhiều chổ ở, tạo liên hệ và việc chấp nhận những người khác” [119].

153. Phẩm chất cuộc sống trong thành phố liên kết với việc chuyên chở, gây nhức nhối cho thị dân. Trong thành phố, nhiều chiếc ô-tô chỉ dành cho một hay hai người. Điều này làm cho việc giao thông ra nặng nề, mức độ ô nhiễm lại cao, một lượng lớn năng lượng không thể tái chế được sử dụng, và như thế cần có những xa lộ và chỗ đậu xe, ảnh hưởng đến cấu tạo của thành phố. Nhiều nhà chuyên môn đồng ý rằng, phải ưu tiên chú tâm đến phương tiện giao thông công cộng. Nhưng một số người chấp nhận cách khó khăn, nếu không cải thiện các phương tiện giao thông này, vì trong nhiều thành phố do quá đông người, bất tiện hay không được thuận lợi khi phải đi gần hay không được bảo đảm, cũng như hành khách không thân thiện.

154. Việc nhận thức phẩm giá đặc biệt của con người thường nghịch lại với cuộc sống xáo trộn mà con người phải chịu đựng trong thành phố. Nhưng điều này không được làm quên lãng và không chú trọng đến tình trạng bị bỏ rơi mà nhiều người đang sống trong vùng đồng ruộng phải chịu, nơi việc phục vụ cần thiết không đi đến được và cũng là nơi các người lao động bị rơi vào tình trạng nô lệ không có luật lệ và cũng không có một viễn ảnh cho một cuộc sống xứng đáng.

155. Môi sinh học nhân bản đòi buộc một điều căn bản hơn : liên hệ cần thiết của đời sống con người với lề luật luân lý được khắc ghi trong bản chất riêng của mình. Liên hệ này tất yếu để có thể tạo được một môi trường xứng đáng hơn. Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI xác quyết : có một môi sinh học nhân bản (Õkologie des Menschen –écologie de l’homme) chỉ vì “con người có một bản chất mà họ phải tôn trọng và họ không thể nào muốn làm gì thì làm theo ý mình” [120] Theo nghĩa này, người ta phải công nhận rằng, thân xác chúng ta đặt chúng ta vào một liên hệ trực tiếp với môi trường và với các sinh vật khác. Việc chấp nhận thân xác của mình như là hồng ân của Thiên Chúa, cần thiết phải đón nhận và chấp nhận trọn cả thế giới cũng là hồng ân của Cha và là ngôi nhà chung; trong khi lý luận cho việc làm chủ thân xác dễ dàng trở thành lý luận làm chủ cả thiên nhiên. Phải học hỏi để chấp nhận thân xác của mình, để chăm sóc và tôn trọng những ý nghĩa đa dạng, là sinh thái học nhân bản đích thực. Cũng như việc đánh giá thân xác mình là nam hay nữ cũng cần thiết, để có thể nhận ra chính mình trong việc gặp gỡ với người khác mình. Với cách này, có thể vui mừng đón nhận hồng ân đặc biệt của kẻ khác là đàn ông hay đàn bà, là công trình của Thiên Chúa, và giúp làm phong phú cho nhau. Vì thế, thái độ cho rằng “phải xóa đi sự khác biệt giữa tính dục, vì không còn biết xử lý như thế nào”, là thái độ không lành mạnh” [121].

[Trở lại Mục Lục]

IV. NGUYÊN TẮC CÔNG CH

156. Môi sinh học nhân bản không thể tách rời với ý niệm công ích, một nguyên tắc giữ vai trò trung tâm và kết hợp trong đạo đức xã hội. Đó là “toàn bộ các điều kiện cho một cuộc sống xã hội, cho từng nhóm cũng như cho từng cá nhân, có thể đạt được cách dễ dàng sự toàn thiện trọn vẹn” [122].

157. Công ích xuất phát từ sự tôn trọng con người như là điều xuất phát từ các lề luật nền tảng và bất biến, nhằm vào sự phát triển toàn diện. Công ích cũng đòi hỏi thiện ích xã hội và sự phát triển những nhóm khác biệt trung gian, dựa theo nguyên tắc bổ trợ. Giữa những người này, gia đình là tế bào gốc cho xã hội. Cuối cùng, thiện ích đòi buộc sự hoà bình xã hội, có nghĩa là sự bền vững và đảm bảo cho một trật tự xác định, không thể thực hiện được, nếu không có sự chú tâm đặc biệt đến công bình phân phối, mà việc vi phạm luật này sẽ luôn tạo nên bạo lực. Toàn thể xã hội – trong đó một cách đặc biệt là thành phố – có trách nhiệm đòi buộc vào bảo vệ công ích.

158. Trong những điều kiện hiện hành của xã hội toàn cầu, trong đó có rất nhiều bất bình đẳng trong xã hội và luôn luôn có nhiều người bị loại trừ, bị cướp đi các luật lệ cơ bản cho nhân phẩm, việc áp dụng nguyên tắc công ích như hệ quả hợp lý và không thể phủ nhận được, một lời kêu gọi tình liên đới và một định kiến ưu tiên cho người nghèo khổ nhất. Định kiến này mang ý nghĩa, được xem như rút ra từ những hệ luận của việc xác định chung về của cải trái đất, nhưng, như tôi đã cố gắng giải thích trong tông huấn Evangelii Gaudium –Niềm Vui Tin Mừng [123] – nó đòi buộc trước tiên phải nhìn phẩm giá vô hạn của những người nghèo trong ánh sáng đức tin sâu xa nhất. Chỉ cần nhìn thực tại để hiểu rằng, định kiến này là một sự đòi hỏi đạo đức căn bản để thực hiện cách hữu hiệu cho công ích.

[Trở lại Mục Lục]

V. SỰ CÔNG BẰNG GIỮCÁTHẾ HỆ

159. Quan niệm về công ích phải liên hệ đến các thế hệ tương lai. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu cho thấy những hậu quả tác hại nặng nề nhất, đưa đến việc không công nhận một số phận chung mà những người đến sau chúng ta bị loại ra ngoài. Nếu không có sự liên đới giữa các thế hệ, thì không thể nào nói đến việc phát triển lâu dài được. Nhớ đến hoàn cảnh này, trong đó chúng ta đã để lại hành tinh cho những thế hệ tương lai, chúng ta sẽ bước vào một lôgic khác về quà tặng nhưng không, mà chúng ta đã nhận và sẽ trao lại. Khi trái đất được ban cho chúng ta, thì chúng ta không thể nào chỉ nghĩ theo tiêu chuẩn hiệu năng và khả năng sản xuất cho việc sử dụng cá nhân chúng ta được. Chúng ta không thể nói về thái độ theo định kiến, nhưng về một câu hỏi căn bản về công bằng, vì trái đất mà chúng ta lãnh nhận, cũng thuộc về những người sẽ tới. Các Đức Giám Mục Bồ Đào Nha khuyến khích đón nhận trách nhiệm công bằng này: “Môi trường nằm trong lôgic của việc đón nhận. Đó là món quà vay mượn, mà mỗi thế hệ đón nhận và phải tiếp tục trao cho những thế hệ tiếp nối” [124]. Một sinh thái học trọn vẹn phải có viễn ảnh này.

160. Chúng ta muốn trao lại một trái đất nào cho những người tiếp nối chúng ta, cho con cái đang lớn của chúng ta? Câu hỏi này không những liên quan đến môi trường cách độc lập, chỉ vì người ta không thể đặt câu hỏi này cách manh múng được. Khi tự hỏi về trái đất mà chúng ta muốn để lại, chúng ta có ý nói đến định hướng của nó cách chung, ý nghĩa và giá trị của nó. Nếu câu hỏi này không được suy xét kỹ, tôi không tin rằng những ưu tư của chúng ta về môi sinh có thể đạt được kết quả có ý nghĩa. Nhưng nếu câu hỏi này được can đảm đặt ra, nó sẽ dẫn chúng ta đến những câu hỏi khác một cách trực tiếp hơn: tại sao chúng ta bước qua thế giới này? chúng ta bước vào cuộc sống này để làm gì? chúng ta làm việc để làm gì cho mệt? thế giới này tại sao cần đến chúng ta? Vì thật ra, nói mãi cũng không đủ, tại sao chúng ta phải lo lắng cho thế hệ tương lai? Chúng ta phải ý thức rằng, chúng ta đang đặt phẩm giá của chúng ta lên bàn cân. Chúng ta là những người đầu tiên chú tâm đến việc để lại cho hậu thế một hành tinh có thể trú ngụ được. Đó cũng là bi kịch cho chính chúng ta, vì điều này cho thấy ý nghĩa cuộc sống của chúng ta trên trái đất này đang bị gặp khủng hoảng.

161. Những tiền dự bi thảm không thể bị đánh giá thấp hoặc cười cợt được. Chúng ta có thể để lại cho những thế hệ tiếp sau quá nhiều đống đổ nát, hoang mạc và dơ bẩn. Mức độ tiêu thụ, sử dụng phung phí và thay đổi thế giới xung quanh vượt quá khả năng của hành tinh, đến độ cách sống hiện tại mà chúng ta đang thực hiện, sẽ chấm dứt trong tại hoạ, như đã xuất hiện theo chu kỳ trong nhiều vùng khác nhau. Việc giảm bới các hậu quả của sự bất bình đẳng hiện tại, lệ thuộc vào điều chúng ta đang làm, nhất là, khi chúng ta nghĩ đến trách nhiệm mà những người phải gánh lấy những điều tồi tệ do chúng ta đã làm.

162. Khó khăn để đón nhận những thách đố này có liên hệ với việc sa đoạ đạo đức và văn hoá, kèm theo sự sa sút về mặt môi sinh. Con người hậu thời tân tiến sẽ gặp nguy hiểm ngay trong chính cá nhân của mình, và rất nhiều vấn đề xã hội liên hệ đến chủ thuyết cấp thời ích kỷ, với cuộc khủng hoảng trong liên hệ gia đình và xã hội, cùng với những khó khăn trong việc liên hệ với đồng loại. Một sự tiêu thụ trực tiếp và quá đáng của cha mẹ gây tai hại cho chính con cái mình, về lâu về dài sẽ khó khăn hơn để tậu một ngôi nhà và lập một gia đình. Ngoài ra, sự bất lực của chúng ta để suy nghĩ cẩn thận về các thế hệ tương lai, liên kết với sự bất lực để triển khai quan niệm của chúng ta về những việc chú tâm hiện tại và suy nghĩ về những người bị loại ra khỏi sự phát triển. Chúng ta không những suy nghĩ đến những người nghèo khổ trong tương lai. Thật cũng đủ để suy nghĩ đến những người nghèo trong hiện tại, họ có rất ít năm để sống trên trần gian này và không còn tiếp tục chờ đợi được nữa. Vì thế, “cận kề sự liên đới với các thế hệ […] cần phải nhấn mạnh về mặt luân lý đến sự liên đới ngay trong một thế hệ” [125].

[Trở lại Mục Lục]

CHƯƠNG NĂM

VÀNÉT CHO ĐỊNH HƯỚNG VÀ HOẠĐỘNG

163. Tôi tìm cách để phân tích hoàn cảnh hiện tại của nhân loại, và biết bao sự đổ vỡ có thể quan sát trên hành tinh chúng ta đang trú ngụ, và những nguyên nhân sâu xa do con người đưa đến việc tàn phá môi trường. Dù việc quan sát thực tế này cho chúng ta thấy sự cần thiết phải thay đổi định hướng, và gợi lên cho chúng ta một số hành động, chúng ta hãy cố vạch ra những đường nét chính của đối thoại, ngõ hầu có thể bước ra khỏi vòng xoáy của việc tự huỷ hoại chính mình mà chính chúng ta đang chết dí trong đó.

I. CUỘĐỐTHOẠVỀ MÔI TRƯỜNG TRONG CHÍNH TRỊ TOÀCẦU

164. Từ giữa thế kỷ cuối cùng và sau những vượt thắng nhiều khó khăn, người ta càng ngày càng ý thức, hành tinh này như quê hương và nhân loại là một dân cùng trú ngụ trong một ngôi nhà chung. Một thế giới phụ thuộc lẫn nhau không những phải nắm vững những hệ quả tai hại của cách sống, cách sản xuất và thái độ tiêu thụ… đều ảnh hưởng đến tất cả mọi người, nhưng nhất là phải lo sao để đề ra được những cách giải quyết có tầm mức toàn cầu chứ không phải chỉ nhằm bảo vệ lợi ích cho vài quốc gia. Sự phụ thuộc lẫn nhau buộc chúng ta phải nghĩ đến mộthế giới duy nhất, một chương trình chung với nhau. Cũng như tài năng khôn ngoan được sử dụng cho sự phát triển kỹ thuật lớn lao, cũng khó tìm được những hình thức hữu hiệu cho việc quản lý toàn cầu, để giải quyết các vấn đề khó khăn của môi trường và xã hội. Để đối mặt với các vấn đề nền tảng không thể giải quyết dựa theo các hoạt động của từng đất nước đơn độc, cần phải có một sự đồng thuận toàn cầu, ví dụ như, đưa ra một chương trình nông nghiệp lâu dài và đa dạng, triển khai những hình thức sử dụng năng lượng có thể tái tạo và ít ô nhiễm, đòi buộc có một cách sản xuất năng lượng thích hợp hơn, cố gắng quản lý các tài nguyên của rừng, của biển và bảo đảm nước uống cho mọi người.

165. Chúng ta biết, khoa học kỹ thuật dựa trên việc đốt cháy các quặng mỏ, làm ô nhiễm môi trường thật nhiều – nhất là than đá, cũng có dầu mỏ và một lượng ít hơn là khí đốt – cần phải thay đổi tiệm tiến và không thể chờ đợi được nữa. Bao lâu chưa tìm được cách phát triển những năng lượng có thể tái chế, thì được phép lựa chọn điều ít xấu hơn hoặc phải lấy lại những giải pháp chuyển tiếp. Dù vậy, trong cộng đồng toàn cầu, khó mà đi đến sự hợp nhất tương đối về trách nhiệm của những người phải gánh lấy giá thành của việc chuyển tải năng lượng. Vào những thập niên cuối, những vấn đề về môi trường đã đưa đến nhiều cuộc tranh luận công khai, đã tạo nên trong cộng đồng xã hội những không gian cho một quyết tâm mạnh mẽ và một cuộc dấn thân quảng đại. Chính trị và doanh nghiệp phản ứng thật chậm, thật xa vời với những đòi hỏi toàn cầu. Theo nghĩa này, người ta có thể nói: trong khi nhận loại sống trong thời hậu kỹ nghệ, có lẽ là một thời đại lịch sử vô trách nhiệm, người ta hy vọng rằng nhân loại vào đầu thế kỷ XXI có thể vẫn nhớ, để có thể đón nhận trách nhiệm khó khăn này với tấm lòng quảng đại.

166. Phong trào sinh thái đã có một quá trình lâu dài, được nhiều tổ chức xã hội nỗ lực bồi đắp. Khó mà kể hết các tổ chức này, cũng như ghi lại lịch sử đóng góp của họ. Nhưng nhờ vào một sự dấn thân mạnh mẽ mà những vấn đề môi sinh càng ngày càng được phổ biến trên các trang tin tức và luôn luôn trở thành một lời mời để suy nghĩ lâu dài. Dù vậy, những cuộc gặp gỡ trao đổi về môi trường toàn cầu của năm cuối cùng không đáp ứng được nguyện vọng, vì thiếu quyết định chính trị, nên không đạt được thoả thuận có ý nghĩa, có thể đem lại nhiều hiệu quả về môi trường.

167. Chỉ cần nêu lên Hội Nghị Về Trái Đất tại Rio de Janeiro vào năm 1992. Hội nghị công bố: “Nhân loại đang đứng ngay trung tâm những cố gắng cho một cuộc phát triển lâu dài” [126]. Liên kết với nội dung các tuyên bố tại Stockholm (1972), hội nghị đã phát biểu cách long trọng về việc cộng tác toàn cầu, để chăm sóc cho hệ thống môi sinh trên toàn trái đất, về trách nhiệm đóng góp tài chính của những người gây nên việc ô nhiễm môi trường ; về trách nhiệm phải khảo sát tác động vào mội trường của từng công trình và dự án. Hội nghị đề xuất phải xác định sự tập trung cao độ của việc phun khí thải vào trong bầu khí quyển, hầu giảm bớt việc nóng dần lên của bầu khí quyển. Hội nghị cũng tạo ra một nhật ký với một chương trình hành động và một sự đồng thuận về sự khác biệt sinh thái cũng như tuyên bố những nguyên tắc về rừng rậm. Dù hội nghị đạt được mọi sự mong đợi và trong thời gian đó mang một tính chất tiên tri, các thoả thuận cũng ít được đem ra thực hiện, chỉ vì không có guồng máy nào thích hợp để kiểm soát, đánh giá từng giai đoạn và xử lý những hành động vi phạm. Các nguyên tắc đề ra cần có những phương tiện vừa nhẹ nhàng, vừa hiệu quả, để đem ra thực hiện cụ thể.

168. Giữa các kinh nghiệm tích cực, người ta có thể kể, tỉ như, khế ước Bâle về các thứ rác thải nguy hiểm với một hệ thống thông báo, luật tiêu chuẩn và kiểm soát ; cũng như người ta nói đến khế ước về việc buôn bán trên toàn cầu, về các động vật và thực vật đang bị đe doạ tuyệt chủng, cùng với trách nhiệm phải tôn trọng có hiệu quả. Cám ơn sự thoả thuận ở Vienne về việc bảo vệ tầng ozon và bắt đầu được thực hiện qua bản báo cáo ở Montréal và nhờ các điều chỉnh, xem ra người ta cố gắng giải quyết vấn đề tầng khí quyển này đang bị giảm bớt.

169. Những tiến bộ về mặt bảo vệ sự đa dạng sinh học và việc hoang mạc hoá, xem ra không có bao nhiêu. Những tiến bộ về mặt biến đổi khí hậu lại càng ít hơn nữa. Việc giảm bớt khí thải đòi hỏi sự minh bạch, can đảm và trách nhiệm của các nước gây ô nhiễm nhiều và mạnh mẽ nhất cho môi trường. Hội nghị tại Hiệp Chủng Quốc về việc phát triển lâu dài, được gọi là Rio + 20 (Rio de Janeiro 2012), đã đưa ra một tuyên bố bế mạc dài và không có hiệu quả. Việc trao đổi quốc tế không có bước tiến tốt đẹp nào cả, vì họ đặt quyền lợi quốc gia lên trên công ích. Những người phải đau khổ vì hậu quả mà chúng ta cố gắng che đậy, đều nhớ đến việc thiếu lương tâm và trách nhiệm. Trong khi thông điệp này được soạn thảo thì cuộc tranh luận đã được chú tâm cách đặc biệt. Chúng ta, những người tin, không được phép dừng việc khẩn cầu Thiên Chúa, để có những bước tiến tích cực trong các cuộc thảo luận hiện hành, để các thế hệ tương lai không phải đau khổ vì những hệ luận chậm trễ thật bất công.

170. Một vài chiến thuật cho việc loại bỏ những khí gây ô nhiễm môi trường, tìm cách quốc tế hoá các giá trị môi sinh đang gặp nguy hiểm vì áp đặt lên các nước có ít tài nguyên, những trách nhiệm nặng nề để thu hẹp lại việc thải khí gây ô nhiễm, so với những nước phát triển công nghiệp hơn. Việc áp đặt những gánh nặng trên các nước, cần được phát triển nhiều hơn. Theo cách này, đó là môt sự bất công dưới chiêu bài bảo vệ môi sinh. Điều này luôn xảy ra cho những nước yếu kém nhất. Phải chấp nhận rằng, hậu quả của việc biến đổi khí hậu đã được cảm nhận từ lâu, hiện tại mức độ lại quá cao, một số quốc gia có ít tài nguyên, cần sự giúp đỡ, để có thể thích ứng với các hậu quả đã xuất hiện và gây tai hại cho nền kinh tế của họ. Trước cũng như sau, phải có những trách nhiệm chung, nhưng rất khác biệt, như các Đức Giám Mục Bolivia đã nói: “Các nước được hưởng lợi với mức độ công nghiệp cao hơn, do việc thải khí gây hiện tượng nhà kín, phải có trách nhiệm nhiều hơn, để giải quyết vấn đề mà chính họ đã gây nên” [127].

171. Chiến thuật của mua và bán “chứng chỉ khí thải” có thể trở thành cái cớ cho một hình thức tự biện, và điều này không thể sử dụng để đúc kết việc thải khí độc hại của toàn cầu. Hệ thống này xem ra là cách giải quyết nhanh gọn và dễ dàng, dưới vỏ bọc của một sự dấn thân nào đó cho môi trường, nhưng không đưa ra một cách thức nào cho sự thay đổi triệt để do hoàn cảnh đưa đến. Ngược lại, nó có thể xoay sở, làm quên đi điều chính yếu, và cho phép nâng đỡ lượng quá tải của những quốc gia và các vùng.

172. Những nước nghèo cần phải loại trừ các đau khổ và ưu tiên cho một sự phát triển xã hội cho dân chúng. Họ cần phải phân tích mức độ tiêu thụ quá đáng của những nhóm ưu đãi và kiểm soát tốt hơn sự huỷ hoại. Thật sự, họ phải triển khai những hình thức ít ô nhiễm hơn về mặt sản xuất năng lượng, nhưng để đạt được họ phải dựa vào sự trợ giúp của những nước đã có sự phát triển mạnh mẽ, đối mặt với ô nhiễm hiện tại của hành tinh. Việc sử dụng trực tiếp năng lượng mặt trời cách phong phú, cũng cần đến máy móc và sự hỗ trợ, để các nước phát triển có thể nhận được kỹ thuật, các người trợ lý kỹ thuật và tài chánh, nhưng phải luôn luôn chú ý đến những điều kiện cụ thể, vì “cơ sở hạ tầng không phải luôn luôn thích hợp với những gì người ta quy hoạch” [128]. Giá thành sẽ bớt đi, nếu người ta so sánh với những nguy hiểm của việc biến đổi khí hậu. Nhưng trước tiên vẫn là một quyết định luân lý, dựa trên tình liên đới giữa các dân tộc.

173. Vì những yêu cầu của địa phương thường rất yếu để có thể can thiệp cách hữu hiệu nên để thay đổi, cần có những sự đồng thuận quốc tế. Liên hệ giữa các quốc gia phải tôn trọng chủ quyền của mỗi nước, nhưng phải cùng nhau xác định con đường được thảo thuận, để có thể loại bỏ tai hoạ ở địa phương, bởi tai hoạ này cuối cùng cũng sẽ ảnh hưởng đến tất cả quốc gia khác. Vẫn còn thiếu những quy định chung đề ra trách nhiệm và ngăn chặn những hành động không thể chấp nhận, tỉ như các quốc gia có quyền lực đem vào những nước khác các rác thải và công nghệ độc hại cho môi trường.

174. Cũng phải cảnh báo về hệ thống quản lý các đại dương. Cho dù đã có những thoả thuận quốc tế hoặc địa phương, nhưng do sự phân tán và thiếu bộ máy kiểm soát nghiêm khắc để đưa ra những quy định và phê chuẩn, cuối cùng làm mất đi mọi cố gắng. Vấn đề gia tăng rác thải vào trong biển và việc bảo vệ các vùng biển vượt quá biên giới quốc tế, đã đưa ra một thách đố đặc biệt. Cuối cùng, chúng ta cần đạt tới một sự thỏa thuận về quy định trật tự và cơ cấu chính trị cho toàn bộ điều được gọi là “công ch toàcầu” [globalen Gemeinwohls – biens communs globaux]

175. Cùng một lý luận như thế, cũng rất khó để có được quyết định nghiêm khắc cho việc thay đổi xu hướng về việc hâm nóng trái đất, và cũng khó đạt tới việc thực hiện mục đích là đẩy lui nghèo khó. Chúng ta cần một phản ứng có trách nhiệm toàn cầu, vừa thu hẹp lại việc ô nhiễm môi trường, vừa chú tâm đến việc phát triển các quốc gia cũng như các vùng nghèo. Bước vào thế kỷ XXI mà người ta vẫn giữ hệ thống cai quản của thời quá khứ, đó là sân khấu cho việc tiến lên của các quốc gia nắm quyền lực, nhất là về mặt kinh tế và tài chính mang hướng liên quốc gia, khống chế cả chính trị. Trong hoàn cảnh này, phải phát huy những cơ quan quốc tế vừa mạnh mẽ vừa có hiệu lực và có quyền lực thưởng phạt. Cũng theo chiều hướng này mà Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội được triển khai, như Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI nhấn mạnh: “Để hướng dẫn nền kinh tế thế giới, để chữa lành những nền kinh tế đang gặp cơn khủng hoảng, đế báo trước sự trầm trọng đưa tới sự bất bình đẳng, để thực hiện việc giải giới trọn vẹn, để đạt được sự bảo đảm về mặt lương thực và hoà bình, để bảo vệ môi trường và ngăn chặn làn sóng di tản, cần phải có mộthẩquyềchính trị toàcầu [politischen Weltautoritãt – Autorité politique mondiale] như Đấng tiền nhiệm của tôi là Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã nói.” [129]. Trong viễn cảnh này, các bộ ngoại giao mang nhiều ý nghĩa tròn đầy để vận động các chiến lược toàn cầu hầu giải quyết các vấn đề trầm trọng nhất, gây tác hại cho mọi người.

[Trở lại Mục Lục]

II. CUỘĐỐTHOẠVỀ QUAN NIỆCHÍNH TRỊ MỚTHUỘQUỐC GIA VÀ ĐỊA PHƯƠNG

176. Đương nhiên vẫn luôn có kẻ thắng người thua trong các nước khác nhau, nhưng ngay giữa các nước nghèo, phải nhìn nhận có nhiều trách nhiệm khác nhau. Vì thế, những vấn đề môi trường và phát triển kinh tế, không thể chỉ đặt từ sự khác biệt giữa các nước, nhưng đòi buộc người ta phải chú ý đến chính trị quốc gia và địa phương.

177. Đối mặt với việc có thể sử dụng vô trách nhiệm của khả năng con người, phận vụ tất yếu của mỗi nhà nước là phải đưa ra chương trình cho chính địa phương của mình, phối hợp, kiểm soát và xử phạt. Làm thế nào một xã hội có thể chuẩn bị và bảo vệ tương lai của mình trong một bối cảnh có nhiều đổi mới kỹ thuật? Quyền thiết đặt các luật lệ cho những thái độ có thể chấp nhận dựa theo công ích, là một động lực tác động vào sự điều hành quan trọng. Các ranh giới mà một xã hội lành mạnh, trưởng thành và quyền lực, phải gắn liền với các dự đoán, quy định luật lệ cách điều độ, kiểm soát việc áp dụng các chỉ thị, chống lại việc sa đoạ, hành động kiểm soát hữu hiệu của những hậu quả không lường trước trong tiến trình sản xuất và tác động có mục đích khi phải đối diện với các thách đố có thể xảy ra. Việc ban bố luật lệ có gia tăng, nhưng phải nhằm làm giảm bớt các hậu quả việc gây ô nhiễm do hoạt động của các doanh nghiệp. Phạm vi chính trị và cơ chế không chỉ hiện hữu để tránh các hành vi xấu, nhưng còn để động viên các hành động tốt, kích thích sự sáng tạo để tìm những con đường mới, để tạo điều kiện dễ dàng cho các sáng kiến cá nhân hoặc tập thể.

178. Bi kịch của chương trình chính trị “nhanh chóng” [“immédiateté” politique] được các nhóm tiêu thụ ủng hộ, đưa đến sự cần thiết để gia tăng thật nhanh. Đáp ứng các lợi ích cho việc bầu chọn, các chính quyền không dễ dàng chấp nhận điều nguy hiểm làm phật lòng dân chúng, gây tổn thất cho mức độ tiêu thụ hoặc có thể gây nguy hiểm cho việc đầu tư của ngoại quốc. Cái nhìn thiển cận trong việc xây dựng quyền lực làm chậm lại việc đón nhận một chương trình với viễn cảnh rộng lớn trong nghị trình công khai của chính quyền. Người ta quên rằng “thời gian có giá trị hơn là không gian” [130]; rằng chúng ta sẽ giàu sang hơn, khi chú tâm giải quyết các tiến trình hơn là thống trị không gian quyền lực. Sự vĩ đại của chính trị cho thấy rõ, trong những hoàn cảnh khó khăn, người ta sẽ hành động theo những nguyên tắc mang ý nghĩa và cùng lúc suy nghĩ về công ích lâu dài. Rất khó cho quyền lực chính trị khi phải đảm nhận trách nhiệm này trong một dự án quốc gia.

179. Trong một số vùng đã phát triển những tổ hợp tác xã cho việc sử dụng các năng lượng có thể tái sinh, có khả năng tự quản và bán ra các sản phẩm dư thừa. Ví dụ đơn sơ này cho thấy: trong khi trật tự hiện hành của thế giới không có khả năng để nhận trách nhiệm, thì cơ quan địa phương có thể tạo một điều khác biệt. Chỉ vì nơi đó, người ta đã suy nghĩ về điều họ sẽ để lại cho con cái cháu chắt, từ đó, họ có một trách nhiệm lớn, một ý nghĩa cộng đồng mạnh mẽ, một khả năng đặc biệt để tiên đoán, một sự sáng tạo nhiệt tình và một tình yêu chân thật cho đất nước họ. Những giá trị này bắt nguồn từ việc dân chúng hợp nhất với nhau. Sau khi nhận thấy luật pháp đôi khi không đủ mạnh để loại sự huỷ hoại, vì thế cần có quyết định chính trị do áp lực của quần chúng. Xã hội, ngang qua các cơ quan không thuộc chính quyền và các hiệp hội trung gian, phải buộc chính quyền triển khai các luật lệ, thủ tục và kiểm soát gắt gao hơn. Khi công dân không kiểm soát quyền lực quốc gia, địa phương và thôn xóm, thì cũng không thể có việc kiểm soát các tai hoạ gây ra cho môi trường. Mặt khác, các lề luật của cộng đồng sẽ hữu hiệu hơn, nếu như có sự đồng thuận giữa dân chúng, để nâng đỡ các chính trị gia có lưu tâm đến môi trường.

180. Người ta không thể tưởng tượng đến các đề nghị đồng thuận, vì mỗi quốc gia hoặc các vùng đều có những vấn đề và ranh giới đặc biệt. Thật vậy, thực tế chính trị có thể đòi hỏi những mức độ và kỹ thuật chuyển tiếp, dưới điều kiện chúng phải luôn luôn đồng hành với dự án và sự chuẩn nhận trách nhiệm của các bên ký kết. Nhưng trên bình diện quốc gia và địa phương có quá nhiều việc để thực hiện, tỉ như trên lãnh vực đòi hỏi các hình thức kinh tế về năng lượng. Điều này cũng tạo điều kiện cho những cách thức sản xuất kỹ nghệ có một hiệu quả cao độ về năng lượng, và ít sử dụng các chất liệu thô, nhận từ thị trường các sản phẩm không có nhiều hiệu quả về năng lượng, hoặc gây nhiều ảnh hưởng cho môi trường. Chúng ta cũng ghi nhận một sự kiểm soát tốt đẹp về giao thông hoặc các hình thức xây dựng và thông thoáng các cao ốc, qua đó có thể rút bớt việc sử dụng năng lượng và mức độ ô nhiễm. Mặt khác, hoạt động chính trị địa phương có thể hoạt động để điều tiết sự tiêu thụ, phát triển kinh tế tái định giá, chú tâm bảo vệ các giống loài và đặt chương trình cho nông nghiệp đa dạng với việc thay đổi các hoa trái. Cũng có khả năng làm tốt lên các vùng nông nghiệp của các nơi nghèo khổ nhờ đầu tư vào các cơ sở hạ tầng của nông nghiệp, trong cách tổ chức thị trường địa phương hoặc quốc gia, trong việc đặt hệ thống cung cấp nước, trong việc phát triển kỹ thuật nông nghiệp lâu dài và nhiều điều khác. Người ta có thể tạo thuận lợi cho việc cộng tác chung hay các tổ chức cộng đồng, là những nhóm bảo vệ lợi ích của những nhà sản xuất nhỏ và bảo đảm hệ thống sinh thái địa phương. Có rất nhiều điều người ta có thể làm.

181. Dù chính quyền tương đối có thể thay đổi, nhưng chính trị về việc thay đổi khí hậu và bảo vệ môi trường, vẫn phải tiếp tục. Các kết quả đòi hỏi nhiều thời gian và phải nêu giá cả trực tiếp với các hiệu quả mà trong thời gian cai trị của chính quyền không thể minh chứng được. Vì thế, không cần can thiệp vào sự đè nén của quần chúng và của các cơ chế, nhưng luôn luôn có sự chống đối, và còn nhiều hơn nữa, khi cần phải giải quyết những trường hợp khẩn cấp. Nếu một chính trị gia nhận những trách nhiệm này với những giá phải trả, sẽ không thích ứng với lý lẽ hiệu quả và trực tiếp về mặt kinh tế cũng như nền chính trị hiện hành, nhưng nếu ông làm, ông sẽ nhận lại được phẩm giá của mình, do chính Thiên Chúa ban cho ông là con người và trên con đường của ông qua lịch sử, ông đã để lại dấu chứng một trách nhiệm lớn của ông. Phải đưa ra quyền ưu tiên cho một chính trị kiên vững, sẽ canh tân các tổ chức và kết hợp chúng lại và công nhận các thực hành tốt đẹp không gây áp lực và khó khăn. Cần phải thêm, các bộ máy tốt cuối cùng cũng phải đào thải vì thiếu những mục đích lớn, các giá trị và quan niệm nhân bản, mà mỗi cộng đồng phải có một định hướng quý giá và quảng đại.

[Trở lại Mục Lục]

III. ĐỐI THOẠI VÀ MINH BẠCH TRONG CÁC TIẾN TRÌNH QUYẾT ĐỊNH

182. Việc tiền dự tác động vào môi trường của các doanh nghiệp và dự án đòi buộc tiến trình chính trị rõ ràng và lệ thuộc vào đối thoại, trong khi sự huỷ hoại ẩn kín sự tàn phá môi trường của một dự án do thoả thuận, thường đưa đến đồng thuận âm thầm, qua đó người ta tránh đưa ra những thông tin và những cuộc tranh luận rộng rãi.

183. Một sự tìm hiểu tác động vào môi trường không thể nằm trong kết luận của sự kiến tạo một dự án sản xuất hoặc bất cứ động cơ chính trị nào, một quy hoạch hay chương trình thực hiện. Việc tìm hiểu này phải có ngay từ đầu và tìm hiểu trên nhiều bình diện, rõ ràng và độc lập khỏi mọi áp lực kinh tế hoặc chính trị. Việc tìm hiểu này phải liên kết với việc phân tích các điều kiện lao động và những hậu quả khả thể – tỉ như trên sức khỏe thể lý và tinh thần của con người, trên kinh tế địa phương, trên sự an toàn. Những kết luận kinh tế có thể đúc kết thật cụ thể dựa vào những kết quả kinh tế, trong đó người ta có thể nhìn từng kịch bản khả thể và tiên liệu sự cần thiết một sự đầu tư lớn hơn để đối mặt với các hậu quả bất ngờ có thể sửa sai được. Luôn luôn cần đến sự đồng thuận của nhiều tác nhân xã hội, có thể đưa ra những viễn cảnh, những giải đáp và những thay đổi khác nhau. Nhưng trên bàn thảo luận, cần phải có một vị trí ưu tiên cho dân chúng địa phương; họ sẽ tự hỏi điều họ mong muốn cho chính mình và con cái họ, họ có thể nhắm vào các mục tiêu vượt quá lợi ích kinh tế hiện tại. Người ta phải bỏ đi ý tưởng “can thiệp” vào môi trường, để kiến tạo những thứ chính trị được đón nhận và bàn thảo do những thành phần tìm thấy lợi ích. Việc tham gia đòi buộc tất cả mọi người đều được thông tin thích hợp cũng như về các nguy cơ cũng như khả thể ; việc tham gia không thể đúc kết trong quyết định thực hiện một dự án, nhưng cần có những hành động tiếp theo và kiểm soát liên tục. Sự thành thật và chân lý cần thiết trong tất cả các cuộc tranh luận khoa học và chính trị, chứ không chỉ hạn hẹp vào điều luật pháp cho phép hay không.

184. Nếu có những bất trắc xuất hiện cho môi trường, có thể ảnh hưởng đến công ích hiện tại hoặc tương lai, hoàn cảnh như vậy, “đòi buộc mọi quyết định dựa vào nền tảng đối mặt giữa nguy hiểm và lợi ích có thể thấy được trong từng lựa chọn” [131]. Điều này có giá trị, khi một dự án có thể kéo theo việc gia tăng sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên, gia tăng sự phát tán hoặc sản xuất nhiều rác thải, đưa đến một sự sa sút, một sự thay đổi có ý nghĩa cho đồng ruộng, gây tai hại cho không gian sinh sống của nhiều giống loài hoặc một không gian công cộng. Những dự án không được phân tích đầy đủ có thể gây hại cho phẩm chất sống của một địa phương dựa vào những vấn đề khác biệt, tỉ như gây ồn ào, ngăn chặn tầm nhìn, đánh mất giá trị văn hoá, hậu quả của việc sử dụng năng lượng hạch tâm. Văn hoá tiêu thụ tạo sự ưu tiên cho việc sống vội và dành cho tư lợi, đưa đến những thủ tục nhanh chóng hoặc che đậy các thông tin.

185. Cần phải nhận thức, khi chấp nhận một dự định cho một sự phát triển thật sự trọn vẹn, người ta phải suy nghĩ đến những câu hỏi trong khi tranh luận như sau: ích lợi gì? tại sao? nơi nào? khi nào? cách thức nào? cho ai? những nguy cơ có thể xảy ra? với giá thành như thế nào? ai sẽ chi trả? người đó sẽ làm như thế nào? Trong thảo luận này có những câu hỏi ưu tiên. Tỉ như, chúng ta biết, nước là một nguồn hạn hẹp và luật căn bản là việc sử dụng phải tuỳ thuộc vào quyền của những người khác. Điều này không thể nghi ngờ gì được và đặt mỗi sự phân tích về tai hại cho môi trường trong điều kiện của một vùng .

186. Tuyên bố của hội nghị tại Rio vào năm 1992 có nói: “Trong trường hợp những bất trắc gây tai hại trầm trọng và lâu dài, sự thiếu sót về hiểu biết hoàn toàn khoa học không thể là lý do để tái đặt lại tài chính để ngăn chặn sự xuống dốc của môi trường” [132]. Nguyên tắc phòng ngừa này được đặt lên để bảo vệ những người yếu đuối, không có phương tiện để sử dụng, để tự bảo vệ và để đưa ra những chứng cứ không thể phủ nhận được. Khi thông tin khách quan cho thấy trước một sự tàn hại trầm trọng và không thể sửa đổi được, mỗi dự án như thế phải dừng lại và được bổ túc. Như thế, trách nhiệm minh chứng, trong những trường hợp như thế, đưa ra một bằng chứng khách quan và không thể bàn cãi được, để thấy hoạt động được đề nghị không gây những tai hại trầm trọng cho môi trường và cho cư dân địa phương.

187. Điều này không có nghĩa là phải chống lại từng việc canh tân kỹ thuật, cho phép làm tốt phẩm chất sống của dân chúng. Nhưng trong tất cả những trường hợp, phải tuân giữ câu nói căn bản, khả năng sinh lợi không phải là tiêu chuẩn duy nhất đế chú tâm vào, và ngay khi xuất hiện những tiêu chuẩn mới để phê phán do sự phát triển trình độ hiểu biết, cần phải có một đánh giá mới do tất cả những bộ phận tham gia. Kết quả cuộc trao đổi có thể là quyết định không tiếp tục dự án, những cũng có thể thay đổi hoặc triển khai các đề nghị tương ứng.

188. Có nhiều cuộc tranh luận về đề tài môi trường, nhưng không đạt được sự đồng thuận. Một lần nữa tôi xin nhấn mạnh, Giáo Hội không có ý định giải quyết những vấn đề khoa học, cũng không thay thế chính trị, nhưng tôi mời gọi một cuộc tranh luận thẳng thắng và rõ ràng, để những nhu cầu đặc biệt và các ý thức hệ không làm tổn hại đến công ích.

[Trở lại Mục Lục]

IV. CHÍNH TRỊ VÀ KINH TẾ TRONG CUỘĐỐTHOẠI CHO VIỆPHÁTRIỂN CON NGƯỜTOÀVẸN

189. Chính trị không được phép tùng phục kinh tế và kinh tế cũng không được phép tùng phục chế độ độc tài và thực dụng hiệu quả của kỹ thuật. Ngày nay, khi suy nghĩ đến công ích, cần thiết chính trị và kinh tế phải đối thoại với nhau để quyết định phục vụ cho cuộc sống, đặc biệt là cuộc sống con người. Cứu nguy cho các ngân hàng bằng mọi giá, bằng cách trả tiền của dân chúng, mà không có quyết tâm suy nghĩ lại về toàn bộ hệ thống và canh tân lại, nâng đỡ quyền thống trị tuyệt đối của tài chính, không nhìn thấy tương lai và sau cách chữa trị lâu dài, tốn kém và chỉ bên ngoài, sẽ tạo cơn khủng hoảng mới. Cuộc khủng hoảng tài chính các năm 2007-2008 là cơ hội cho sự phát triển một nền kinh tế mới, chú tâm vào nền tảng luân lý và cho việc triển khai quy định mới cho hoạt động tài chính đặc biệt và sự giàu sang giả định. Dù vậy, không có phản ứng nào giúp suy nghĩ lại các tiêu chuẩn xa xưa không ai dùng nữa, nhưng vẫn tiếp tục lãnh đạo thế giới. Sản xuất thường không hợp lý và luôn luôn liên kết với sự thay đổi về mặt kinh tế. Chính kinh tế này sẽ xác định giá trị của sản phẩm, thường không đúng với giá trị thật của chúng. Điều này đưa đến việc sản xuất quá tải một sản phẩm, gây ảnh hưởng nặng nề cho môi trường một cách không cần thiết, đồng thời cũng ảnh hưởng đến các chi nhánh kinh tế của địa phương . [133]. Bong bóng tài chính cố gắng trở thành bong bóng sản xuất. Cuối cùng, điều được đón nhận không phải để chống năng lượng, vấn đề kinh tế thật sự có thể thực hiện, đó là tạo việc sản xuất đa dạng và làm tốt, để các việc kinh doanh có thể hoạt động tốt và để cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có thể phát triển và tạo được công ăn việc làm.

190. Trong mối tương quan này, cần phải nhớ, “việc bảo vệ môi trường […] không những được thực hiện dựa trên nền tảng việc tính toán phí tổn tài chính. Môi trường là một phần của các điều thiện hảo, mà bộ máy thị trường không thể bảo vệ hoặc có thể đòi buộc theo cùng một hình thức được” [134]. Một lần nữa phải tránh quan niệm ma thuật của thị trường. Có xu hướng cho rằng, mình có thể giải quyết vấn đề bằng cách gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp hoặc của cá nhân. Có thực hy vọng rằng những người dựa theo lợi nhuận tối đa, sẽ cố gắng gìn giữ tư tưởng về những hậu quả của môi trường mà họ muốn trao lại cho thế hệ mai sau hay không? Trong dự án thắng lợi, không có chỗ cho tư tưởng về vận hành của thiên nhiên, về những giai đoạn suy thoái và tái sinh, về sự nhiêu khê của hệ thống môi sinh, đã bị thay đổi do tác động quá nặng nề của con người. Ngoài ra, khi nói về sự đa dạng sinh học, người ta thường chỉ nhìn đến sự dự trữ các tài nguyên cho kinh tế, có thể bóc lột được, nhưng người ta không chú tâm đến giá trị của vạn vật, ý nghĩa của chúng đối với con người và văn hoá, lợi ích và nhu cầu của người nghèo.

191. Khi người ta nêu lên các câu hỏi này, một số người phản ứng bằng việc kết án các kẻ khác cho rằng họ thật ảo tưởng khi nghĩ đến việc thành công và phát triển con người. Chúng ta phải minh chứng, việc làm chậm lại nhịp sản xuất và tiêu thụ là cái cớ đưa ra những hình thức cho thành công và phát triển. Những cố gắng cho việc sử dụng tài nguyên cách lâu dài không phải là việc bảo vệ vô ích, nhưng là một sự đầu tư để sinh lợi nhuận kinh tế theo một hình thức nhẹ nhàng hơn. Nếu không phải đau khổ vì cái nhìn hạn hẹp, chúng ta có thể khám phá có nhiều cách chuyển đổi sản xuất mới mẽ hơn và có thể thay đổi các sản phẩm ít gây tai hại cho môi trường hơn. Đó là mở một con đường cho nhiều khả năng khác, không có nghĩa là ngăn chặn sự sáng tạo của con người và ý nghĩa cho phát triển, nhưng định hướng cho năng lượng này theo những con đường mới.

192. Tỉ như, một con đường triển khai sản xuất có nhiều sáng tạo hơn và định hướng tốt hơn có thể sửa sai hành động một sự đầu tư kỹ thuật quá đáng cho tiêu thụ và yếu kém, để giải quyết các vấn đề chưa được thoả đáng cho nhân loại; có thể tạo những hình thức sáng suốt và sinh lợi hơn cho việc tái sử dụng, chuyển đổi phận vụ và quay vòng ; nó cũng có thể làm tốt đẹp hiệu quả năng lượng của các thành phố và nhiều hơn nữa. Việc đa dạng hoá sản phẩm kích thích sự khôn ngoan của con người để bộc lộ nhiều khả năng, để tạo dáng và làm cho mới mẽ, trong khi bảo vệ được môi trường và tạo công ăn việc làm. Có lẽ đó là một sự sáng tạo có khả năng, giúp nảy nở sự cao quý mới mẽ của con người, chỉ vì con người xứng đáng dùng lý trí của mình với sự can đảm và trách nhiệm, để tìm những hình thức phát triển lâu dài và quân bình, trong giới hạn của một quan niệm rộng rãi hơn để tạo phẩm chất của cuộc sống, tìm được những hình thức phát triển lâu dài và quân bình. Ngược lại, sẽ không xứng đáng, hời hợt và không có sức sáng tạo để tạo những hình thức cướp phá thiên nhiên, chỉ để tạo điều kiện cho việc tiêu thụ và thu lợi tức khắc.

193. Nếu trong vài trường hợp, sự phát triển lâu dài đem đến những hình thức phát triển; trong những trường hợp khác, đối mặt với những phát triển kinh khủng và vô trách nhiệm đã kéo dài hằng nhiều thập niên, người ta phải suy nghĩ tới việc phải làm chậm lại và phải đặt ra những ranh giới hợp lý, có khi phải quay ngược lại kẻo quá trễ. Chúng ta biết, thái độ của những người chỉ nhắm nhiều và càng nhiều vào tiêu thụ và phá hoại, thì không thể giữ lại được, trong khi những người khác chưa sống được với phẩm giá con người. Vì thế, đã đến lúc, phải chấp nhận sự thụt lùi ở một mức độ nào đó trong một vài phần trên thế giới và phải hỗ trợ họ, để những phần khác trên thế giới có thể vươn lên cách lành mạnh. Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã nói: “Các xã hội tiên tiến về mặt kỹ thuật phải sẵn sàng có những thái độ giảm bớt nhu cầu năng lượng và làm tốt các điều kiện sử dụng” [135].

194. Để có những mẫu hình ảnh mới cho sự phát triển, “chúng ta phải hướng kiểu mẫu phát triển toàn cầu theo một hướng khác… , điều đó đòi buộc phải suy nghĩ cách thức có trách nhiệm về “ý nghĩa của kinh tế và mục đích của nó, để có thể sửa sai những sự lạm dụng và mất thăng bằng” [137] Thực sự cũng không đủ khi chăm sóc thiên nhiên bằng một hiệp ước tài chính hoặc bảo quản môi trường với các tiến bộ và liên kết chúng lại bằng một con đường trung gian. Trong liên hệ này, những con đường trung gian chỉ làm chậm lại sự đổ vỡ. Điều chính đáng ở đây là phải định nghĩa lại sự phát triển là gì. Một sự phát triển về mặt kỹ thuật và kinh tế, nếu không để lại một thế giới tốt đẹp hơn và một phẩm chất sống cao hơn cho mọi người, thì không thể gọi là phát triển được. Mặt khác, phẩm chất thực sự của cuộc sống con người thường bị giảm đi trong sự liên hệ với phát triển kinh tế – qua việc tàn phá môi trường, do phẩm chất thấp kém các sản phẩm lương thực hoặc làm cạn kiệt tài nguyên. Trong khung cảnh này, diễn từ về việc phát triển lâu dài thường trở thành lời phản hồi phủ nhận và hợp lý hoá, nằm trong các bài diễn văn môi sinh trong lý luận về mặt tài chính và kỹ thuật ; trách nhiệm xã hội và môi trường của các doanh nghiệp thường được đúc kết vào một chuỗi quảng cáo và trưng hình trưng ảnh.

195. Nguyên tắc thu hoạch tối đa, thường chú tâm tách biệt các cách quan niệm, đó là phá tán ý nghĩa kinh tế: khi sản phẩm gia tăng, không cần đến cái giá của tài nguyên tương lai hoặc về sự lành mạnh của môi trường, nếu việc khai thác rừng làm tăng giá thành sản phẩm, thì trong tính toán không ai dám nói đến sự mất mát, đó là việc hoang hoá một mảnh đất, hoặc việc gây tai hại cho sự đa dạng sinh học hoặc nâng cao mức ô nhiễm môi trường. Điều này có nghĩa là, các doanh nghiệp đạt được lợi nhuận khi tính toán và trả thấp theo giá thành. Chỉ có thể nhận một thái độ mang tính luân lý, “khi giá kinh tế và xã hội xuất từ việc sử dụng tài nguyên tự nhiên chung được thiết đặt rõ ràng và những người hưởng lợi phải gánh chịu, chứ không phải các dân tộc khác hoặc các thế hệ tương lai phải trả” [138]. Tính chất hợp lý của một sự phân tích thực tại cách quân bình dưới cái nhìn vào nhu cầu hiện tại, cũng như thị trường, đảm nhận các tài nguyên, khi nhà nước như là người điều phối, hoạch định.

196. Điều gì sẽ diễn ra với chính trị? Chúng ta nhớ lại nguyên tắc bổ trợ, điều này bảo đảm sự tự do cho việc phát triển mọi khả năng đang có trên mọi bình diện, đồng thời đòi buộc người nắm giữ quyền hành nhiều hơn, phải bảo đảm công ích. Thật vậy, ngày nay nhiều phạm vi kinh tế thực hiện nhiều quyền hành hơn là quốc gia. Người ta không thể hợp lý hoá cho một nền kinh tế không có chính trị – nền kinh tế này không có khả năng đưa ra một lý luận khác có thể chuyển dịch nhiều phương diện khác biệt của cơn khủng hoảng ngày nay. Một lý luận mà người ta không thể mong chờ một sự chăm sóc đúng đắn cho môi trường, thì lý luận đó sẽ ngăn cản sự hội nhập của những người yếu đuối, vì “trong cách thức hiện tại về “thành công” và “quyền tư nhân”, không mang ý nghĩa giúp những kẻ sau cùng, những người yếu đuối hoặc ít khả năng, có thể làm một điều gì cho cuộc sống của họ” [139].

197. Chúng ta cần một thứ chính trị, mà suy tư của chính trị này bao gồm một viễn ảnh rất rộng, nâng đỡ một quyết tâm mới và trọn vẹn, khi đón nhận các phương diện khác nhau của cuộc khủng hoảng trong một cuộc đối thoại liên khoa học. Thường thì chính trị tự đánh mất diện mạo của mình, vì lý do sa đọa hoặc vì thiếu chính trị tốt đẹp công khai. Khi một thành phố của một vùng nào không chu toàn vai trò của mình, sẽ có những nhóm nhà kinh tế xuất hiện như những người từ thiện và sẽ nắm lấy quyền lực thật sự một cách bất chính, tự cảm thấy mình đầy quyền hành, không tuân thủ một số luật lệ và còn đưa ra những cái cớ dưới nhiều hình thức tội phạm có tổ chức, buôn bán người, buôn bán ma túy và bạo lực – những điều xấu này khó mà tiêu diệt được. Nếu chính trị không còn khả năng loại bỏ lý luận lộn xộn này và nếu như không vượt qua được các bài diễn thuyết nghèo nàn, chúng ta sẽ tiếp tục hành động mà không tấn công vào những vấn đề lớn của nhân loại. Một chiến thuật cho một sự thay đổi thực sự đòi buộc phải suy nghĩ lại toàn bộ tiến trình, vì không thể đúc kết một cách hời hợt trên các suy luận về môi trường, trong khi người ta không đặt vấn đề về lý luận và văn hoá hiện tại nằm sâu trong đó. Một chính trị lành mạnh phải có khả năng đón nhận những thách thức này.

198. Chính trị và kinh tế thường có xu hướng cùng nhau kết tội cho nghèo đói và tàn phá môi trường. Nhưng điều mà người ta hy vọng là họ nhận thức lỗi lầm của họ và tìm những hình thức cộng tác với nhau, nhằm vào hướng công ích. Trong khi nhóm này chỉ nghi ngờ về lợi lộc kinh tế và nhóm kia chỉ nhắm vào bảo vệ quyền lực hoặc gia tăng quyền lực, chúng ta chỉ có kết quả là chiến tranh hoặc những sự thỏa thuận ngầm, ít ra, cả hai nhóm phải chú tâm bảo vệ môi trường và chăm sóc những kẻ yếu. Ở đây cũng có nguyên tắc: “Sự hiệp nhất đứng trên xung khắc” [140]

[Trở lại Mục Lục]

V. CÁC TÔN GIÁO TRONG CUỘĐỐTHOẠVỚCÁC KHOA HỌC

199. Người ta không thể nói rằng các khoa học thực nghiệm giải thích hoàn toàn sự sống, cơ cấu các thụ tạo và sự toàn vẹn của các thực tại. Có nghĩa là, chúng đã bước ra khỏi ranh giới thực nghiệm của mình. Nếu người ta suy nghĩ trong khung đóng kín này, thì cảm nghiệm vẻ đẹp, thi phú và cả khả năng lý trí để nhận ra ý nghĩa và mục đích vạn vật, cũng tiêu tan [141]. Tôi chỉ xin nhắc lại, “các bản văn tôn giáo cổ điển vẫn có thể đưa ra một ý nghĩa cho tất cả mọi thời đại và có một sức lực tác động luôn khai mở một chân trời mới […] Có hợp lý và khôn ngoan không, khi đưa những bản văn nằm trong bóng tối ra ánh sáng, chỉ vì chúng xuất phát từ một niềm tin tôn giáo?” [142] Thật ngây thơ mà bảo rằng, các điểm luân lý căn bản có thể trừu tượng và tách ra khỏi môi trường và thực tế chúng xuất hiện trong một ngôn ngữ tôn giáo, cũng không làm giảm đi giá trị của chúng trong những tranh luận công khai. Các nguyên tắc luân lý mà lý trí có thể chấp nhận, luôn luôn có thể xuất hiện trong bộ áo mới và được diễn tả bằng những ngôn ngữ khác nhau, bao gồm cả tôn giáo.

200. Mặt khác, mỗi một giải đáp kỹ thuật mà khoa học trưng ra, xem ra bất lực để giải quyết các vấn đề trầm trọng của thế giới, khi nhân loại rời xa dòng chảy của mình, khi những lý do chuyển động tạo nên sự chung sống, hy tế và điều thiện hảo, bị quên lãng. Nhưng trong bất cứ trường hợp nào, người ta vẫn gọi đến các tín hữu, để sống trong sự đồng thuận, trong niềm tin và trong hoạt động không đi ngược lại với niềm tin ; người ta xin họ một lần nữa mở rộng tâm hồn cho ân sủng của Thiên Chúa và xác tín sâu thẳm về tình yêu, công bằng và bình an. Nếu hiểu sai về những nguyên tắc, đôi khi đưa chúng ta đến việc công chính hoá những hành động sai trái trên tự nhiên hoặc sự thống trị như chủ nhân trên sáng tạo hoặc chiến tranh, sự bất công và bạo lực; là tín hữu chúng ta có thể nhận ra, theo cách này, chúng ta đã bất trung với kho tàng khôn ngoan mà chúng ta phải bảo vệ. Thường các ranh giới văn hoá của nhiều thời đại, ảnh hưởng trên ý thức của gia sản luân lý và tinh thần; nhưng chính từ việc quay về với những nguồn này sẽ giúp các tôn giáo đáp ứng tốt hơn với những nhu cầu hiện tại.

201. Phần đông dân chúng của hành tinh tự nhận mình là các tín hữu, từ đó, các tôn giáo phải bước vào cuộc đối thoại với nhau để giải hoà với thiên nhiên, bảo vệ người nghèo và xây dựng mạng lưới tôn trọng và huynh đệ. Cuộc đối thoại giữa các nhà khoa học cũng rất cần thiết, chỉ vì mỗi khoa học thường tự đóng kín mình trong ranh giới của ngôn ngữ riêng, và sự chuyên môn có xu hướng tự tại và tuyệt đối hoá sự hiểu biết của mình. Điều này ngăn trở việc đối mặt thích hợp các vấn đề môi trường. Một cuộc đối thoại rộng mở và tôn trọng nhau trở nên cần thiết giữa các phong trào môi sinh khác nhau, nơi đó cũng có nhiều tranh đấu cho ý thức hệ. Sự trầm trọng của cuộc khủng hoảng môi sinh đòi buộc mọi người suy nghĩ về công ích và tiến bước trên con đường đối thoại, đòi hỏi sự kiên nhẫn, khổ hạnh và khoang dung; luôn luôn nhớ đến câu: “ Thực tế đứng trên ý tưởng” [143]

[Trở lại Mục Lục]

(Xem tiếp Laudato Si, phần III)

Chú Thích

[80] Hence Saint Justin could speak of “seeds of the Word” in the world; cf. II Apologia 8, 1-2; 13, 3-6: PG 6, 457-458, 467.

[81] JOHN PAUL II, Address to Scientists and Representatives of the United Nations University, Hiroshima (25 February 1981), 3: AAS 73 (1981), 422.

[82] BENEDICT XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate (29 June 2009), 69: AAS 101 (2009), 702.

[83] ROMANO GUARDINI, Das Ende der Neuzeit, 9th ed., Würzburg, 1965, 87 (English: The End of the Modern World, Wilmington, 1998, 82).

[84] Ibid.

[85] Ibid., 87-88 (The End of the Modern World, 83).

[86] PONTIFICAL COUNCIL FOR JUSTICE AND PEACE, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 462.

[87] ROMANO GUARDINI, Das Ende der Neuzeit, 63-64 (The End of the Modern World, 56).

[88] Ibid., 64 (The End of the Modern World, 56).

[89] Cf. BENEDICT XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate (29 June 2009), 35: AAS 101 (2009), 671.

[90] Ibid., 22: p. 657.

[91] Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 231: AAS 105 (2013), 1114.

[92] ROMANO GUARDINI, Das Ende der Neuzeit, 63 (The End of the Modern World, 55).

[93] JOHN PAUL II, Encyclical Letter Centesimus Annus (1 May 1991), 38: AAS 83 (1991), 841.

[94] Cf. Love for Creation. An Asian Response to the Ecological Crisis, Declaration of the Colloquyum sponsored by the Federation of Asian Bishops’ Conferences (Tagatay, 31 January-5 February 1993), 3.3.2.

[95] JOHN PAUL II, Encyclical Letter Centesimus Annus (1 May 1991), 37: AAS 83 (1991), 840.

[96] BENEDICT XVI, Message for the 2010 World Day of Peace, 2: AAS 102 (2010), 41.

[97] ID., Encyclical Letter Caritas in Veritate (29 June 2009), 28: AAS 101 (2009), 663.

[98] Cf. VINCENT OF LERINS, Commonitorium Primum, ch. 23: PL 50, 688: “Ut annis scilicet consolidetur, dilatetur tempore, sublimetur aetate”.

[99] No. 80: AAS 105 (2013), 1053.

[100] SECOND VATICAN ECUMENICAL COUNCIL, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 63.

[101] Cf. JOHN PAUL II, Encyclical Letter Centesimus Annus (1 May 1991), 37: AAS 83 (1991), 840.

[102] PAUL VI, Encyclical Letter Populorum Progressio (26 March 1967), 34: AAS 59 (1967), 274.

[103] BENEDICT XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate (29 June 2009), 32: AAS 101 (2009), 666.

[104] Ibid.

[105] Ibid.

[106] Catechism of the Catholic Church, 2417.

[107] Ibid., 2418.

[108] Ibid., 2415.

[109] Message for the 1990 World Day of Peace, 6: AAS 82 (1990), 150.

[110] Address to the Pontifical Academy of Sciences (3 October 1981), 3: Insegnamenti 4/2 (1981), 333.

[111] Message for the 1990 World Day of Peace, 7: AAS 82 (1990), 151.

[112] JOHN PAUL II, Address to the 35th General Assembly of the World Medical Association (29 October 1983), 6: AAS 76 (1984), 394.

[113] EPISCOPAL COMMISSION FOR PASTORAL CONCERNS IN ARGENTINA, Una tierra para todos (June 2005), 19.

[114] Rio Declaration on Environment and Development (14 June 1992), Principle 4.

[115] Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 237: AAS 105 (2013), 1116.

[116] BENEDICT XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate (29 June 2009), 51: AAS 101 (2009), 687.

[117] Some authors have emphasized the values frequently found, for example, in the villas, chabolas or favelas of Latin America: cf. JUAN CARLOS SCANNONE, S.J., “La irrupción del pobre y la lógica de la gratuidad”, in JUAN CARLOS SCANNONE and MARCELO PERINE (eds.), Irrupción del pobre y quehacer filosófico. Hacia una nueva racionalidad, Buenos Aires, 1993, 225-230.

[118] PONTIFICAL COUNCIL FOR JUSTICE AND PEACE, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 482.

[119] Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 210: AAS 105 (2013), 1107.

[120] Address to the German Bundestag, Berlin (22 September 2011): AAS 103 (2011), 668.

[121] Catechesis (15 April 2015): L’Osservatore Romano, 16 April 2015, p. 8.

[122] SECOND VATICAN ECUMENICAL COUNCIL, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 26.

[123] Cf. Nos. 186-201: AAS 105 (2013), 1098-1105.

[124] PORTUGUESE BISHOPS’ CONFERENCE, Pastoral Letter Responsabilidade Solidária pelo Bem Comum (15 September 2003), 20.

[125] BENEDICT XVI, Message for the 2010 World Day of Peace, 8: AAS 102 (2010), 45.

[126] Rio Declaration on Environment and Development (14 June 1992), Principle 1.

[127] BOLIVIAN BISHOPS’ CONFERENCE, Pastoral Letter on the Environment and Human Development in Bolivia El universo, don de Dios para la vida (March 2012), 86.

[128] PONTIFICAL COUNCIL FOR JUSTICE AND PEACE, Energy, Justice and Peace, IV, 1, Vatican City (2014), 53.

[129] BENEDICT XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate (29 June 2009), 67: AAS 101 (2009).

[130] Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 222: AAS 105 (2013), 1111.

[131] PONTIFICAL COUNCIL FOR JUSTICE AND PEACE, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 469.

[132] Rio Declaration on the Environment and Development (14 June 1992), Principle 15.

[133] Cf. MEXICAN BISHOPS’ CONFERENCE, EPISCOPAL COMMISSION FOR PASTORAL AND SOCIAL CONCERNS, Jesucristo, vida y esperanza de los indígenas e campesinos (14 January 2008).

[134] PONTIFICAL COUNCIL FOR JUSTICE AND PEACE, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 470.

[135] Message for the 2010 World Day of Peace, 9: AAS 102 (2010), 46.

[136] Ibid.

[137] Ibid., 5: p. 43.

[138] BENEDICT XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate (29 June 2009), 50: AAS 101 (2009), 686.

[139] Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 209: AAS 105 (2013), 1107.

[140] Ibid., 228: AAS 105 (2013), 1113.

[141] Cf. Encyclical Letter Lumen Fidei (29 June 2013), 34: AAS 105 (2013), 577.

[142] Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 256: AAS 105 (2013), 1123.

[143] Ibid., 231: p. 1114.

Bài viết khác

Tin xem nhiều trong tháng

Nhóm QUÊ HƯƠNG: 35 năm Hình thành Nhóm QH cùng với các Khoá nhạc dài hạn, 31 năm Ca Đoàn Quê Hương, 10 năm Khoá nhạc cấp tốc mùa Hè, và 5 năm liên kết FAM với LCM.

Nhóm QUÊ HƯƠNG: 35 năm Hình thành Nhóm QH cùng với các Khoá nhạc dài hạn, 31 năm Ca Đoàn Quê Hương, 10 năm Khoá nhạc cấp tốc mùa Hè, và 5 năm liên kết FAM với LCM.

08/08/2017

Đầu năm 1982, Nhạc sư Hải Linh thành lập nhóm Quê Hương, và từ đó Các Lớp Nhạc do các thành viên Nhóm Quê Hương hướng dẫn được gọi là CÁC LỚP NHẠC QUÊ HƯƠNG, nay gọi là VIỆN ÂM NHẠC PHAN-SINH (FAM) từ khi liên kết với London College of Music (LCM 2013)